1. Quy định chung về vùng biển

Khái niệm vùng biển theo nghĩa nêu trên bắt đầu xuất hiện trong Sắc chỉ ngày 4.5.1493 của Giáo hoàng Alexandre VI phân chia đại dương thành hai khu vực truyền đạo thuộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Trên cơ sở đó, một năm sau, vào ngày 7.6.1494, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã kí Hiệp ước Tordesillas phân chia vùng biển thuộc ảnh hưởng của họ. Trong các thế kỉ tiếp theo, các vùng biển mang tên lãnh hải, biển cả, vùng tiếp giáp lãnh hải, thểm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế, vùng nước quần đảo,... đã lần lượt ra đời và được ghi nhận trong các văn kiện pháp lí quốc tế đa phương, trong đó có Công ước Luật biển của Liên hợp quốc năm 1982.

Ở Việt Nam, ngày 12.5.1977, Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Tuyên bố quy định các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.

2. Vùng - di sản chung của loài người là gì ?

Vùng là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia. Tài nguyên của vùng bao gồm các tài nguyên khoáng sản ở thể rắn, lỏng hoặc khí in situ (ở ngay tại chỗ), kể cả các khôi đa kim (nodules polymétalliques) nằm ở đáy đại dương và trong lòng đất dưới đáy.

3. Chế độ pháp lý đối với vùng - di sản chung của loài người

Vùng và tài nguyên của nó là di sản chung của loài người. Điều này được thể hiện:

- Vùng và tài nguyên của vùng không phải là đối tượng của việc chiếm hữu.

>> Xem thêm:  Tổ chức quốc tế là gì ? Đặc điểm, phân loại tổ chức quốc tế

- Vùng được sừ dụng vào những mục đích hoàn toàn hoà bình.

- Mọi hoạt động trong vùng được tiến hành vì lợi ích của toàn thể loài người. Việc thăm dò, khai thác tài nguyên của vùng được tiến hành thông qua một tổ chức quốc tế được gọi là Cơ quan quyền lực quốc tế. Cơ quan quyền lực quốc tế bảo đảm việc phân chia công bằng, trên cơ sở không phân biệt đối xử, những lợi ích tài chính và các lợi ích kinh tế khác do những hoạt động tiến hành trong vùng, thông qua bộ máy của mình.

Di sản chung của loài người là Thuật ngữ được Liên hợp quốc áp dụng trong thời gian chuẩn bị Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ III về Luật biển (Nghị quyết số 2749 ngày 17/12/1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc) và được pháp điển hóa vào Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về Luật biển.

Theo quy định tại Điều 1 và Điều 136 của Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về Luật biển: đáy biển, lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán​ quốc gia và toàn bộ tài nguyên của đáy biển, lòng đất dưới đáy biển đó là di sản chung của loài người. Công ước còn quy định: không một quốc gia nào có thể đòi hỏi thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộc chủ quyền ở một phần nào đó của di sản chung của loài người; không một quốc gia nào, một cá nhân hoặc pháp nhân nào có thể chiếm đoạt bất cứ một phần nào đó của di sản chung. Không một yêu sách, một việc thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộc chủ quyền nào, cũng như không một hành động chiếm đoạt nào được thừa nhận. Cơ quan quyền lực được thành lập theo quy định của Công ước về Luật biển sẽ là người thay mặt cho tất cả các quyền đối với các tài nguyên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế