Trả lời:

Các vùng biển nằm ngoài phạm vi quyền tài phán của quốc gia bao gồm biển quốc tế (có bản dịch là “Biển cả”) và Vùng. Trên cơ sở phân tích các quy định của Luật biển quốc tế; mà chủ yếu là UNCLOS 1982, Chương này làm rõ phạm vi không gian và chế độ pháp lý của mỗi vùng biển nêu trên, về cơ bản, biển quốc tế được điều chỉnh bởi nguyên tắc tự do biển cả và trật tự pháp lý ở biển quốc tế được đảm bảo trước hết bởi nguyên tắc quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ. Đối với Vùng, nguyên tắc di sản chung của nhân loại đã và sẽ vẫn là nguyên tắc chủ yếu điều chỉnh các hoạt động ở Vùng.

1. Khái niệm biển quốc tế

Theo Điều 86 UNCLOS 1982, biển quốc tế là tất cả những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo. Ở những nơi quốc gia đã yêu sách vùng đặc quyền kinh tế thì ranh giới phía trong của biển quốc tế là ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế. Ở những nơi mà quốc gia ven biển không yêu sách vùng đặc quyền kinh tế, ranh giới phía trong của biển quốc tế là ranh giới ngoài của lãnh hải. Trong trường hợp này, một phần đáy biển của biển quốc tế là thềm lục địa của quốc gia ven biển cho đến giới hạn được quy định trong luật biển quốc tế.

Xét ở góc độ pháp lý quốc tế, biển quốc tế là vùng biển mà việc khai thác và sử dụng luôn được luật quốc tế điều chỉnh. Từ thế kỉ XVII, khái niệm tự do biển cả đã được đề cập trong công trình nghiên cứu của Hugo Grotius với nội dung: “Biển cả là lãnh thổ quốc tế và tất cả các quốc gia được tự do sử dụng nó cho hàng hải trên biển”. Với sự ra đời của các công ước luật biển, đặc biệt là UNCLOS 1982, phạm vi không gian của biển quốc tế bị thu hẹp đáng kể. Đồng thời, sự gia tăng những lo ngại có tính toàn cầu đối với vấn đề quản lý đại dương cũng làm nảy sinh các thách thức đối với khái niệm truyền thống về tự do biển cả và đòi hỏi cộng đồng quốc tể phải có trách nhiệm hơn đối với các vấn đề về đại dương. Hiện nay, biển quốc tế đã trở thành vùng biển được quản lý chung chứ không phải là nơi mà các quyền tự do biển cả truyền thống có thể được thực hiện một cách tuyệt đối. Ngoài ra, thực tiễn tàu thuyền của các quốc gia thực hiện quyền tự do hàng hải, trấn áp cướp biển, buôn bán nô lệ... cũng làm hình thành nên nhiều quy phạm của luật tập quán quốc tế điều chỉnh các hoạt động ở biển quốc tế.

2. Chế độ pháp lý của biển quốc tế

2.1 Quyền tự do biển cả

Từ đầu thế kỉ XIX, tự do biển cả đã trở thành nguyên tắc và được coi là nền tảng pháp lý của chế độ khai thác và sử dụng biển quốc tể. Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở hai khía cạnh:

Thứ nhất, “tự do” nghĩa là không thuộc phạm vi quyền tài phán của quốc gia, vì vậy, “không một quốc gia nào có thể đòi đặt một cách hợp pháp một bộ phận nào đó của biển quốc tế thuộc về chủ quyền của mình”.

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

Thứ hai, “tự do” nghĩa là, phù hợp với pháp luật quốc tế, mọi quốc gia đều có quyền như nhau trong việc tự do sử dụng biển quốc tế. Quá trình pháp điển hóa chế độ pháp lý của biển quốc tể đã dẫn đến sự ghi nhận rằng tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, đều được hưởng sáu quyền tự do trên biển quốc tế: Tự do hàng hải; tự do hàng không; tự do đánh bắt hải sản; tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm; tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác được luật quốc tế cho phép; tự do nghiên cứu khoa học (Điều 2 Công ước Giơnevơ 1958 về Biển cả và Điều 89 UNCLOS 1982 và Khoản 1 Điều 87 UNCLOS 1982). Ngoài những quyền này, tự do biển cả có thể bao gồm các quyền tự do khác trên cơ sở “những quy tắc khác của pháp luật quốc tế”.

Tuy nhiên, các quyền tự do biển cả chỉ được áp dụng một cách đầy đủ đối với biển quốc tế nằm ở phía trên Vùng (đáy biển và lòng đất dưới đáy biển phía ngoài thềm lục địa pháp lý của các quốc gia ven biển), bởi vì quyền tự do xây dựng đảo nhân tạo và tự do nghiên cứu khoa học biển có thể bị hạn chế bởi quyền tài phán của quốc gia ven biển trong các vùng nước ở phía trên thềm lục địa nằm ngoài giới hạn 200 hải lý kế từ đường cơ sở.1 Quyền tự do biển cả cũng không thừa nhận tính tự do tuyệt đối và tùy ý của tất các hành vi được tiến hành ở biển quốc tế, bởi vì:

“mỗi quổc gia khi thực hiện các quyền tự do này phải tỉnh đến lợi ích của việc thực hiện tự do ưên biển cả của các quốc gia khác, cũng như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quan đến các hoạt động trong Vùng’’ (khoản 2 Điều 87 UNCLOS 1982).

Biển quốc tế phải được sử dụng vào những mục đích hòa bình. Các quốc gia không được tiến hành hoạt động quân sự ở biển quốc tế trái với mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc (Điều 80, Điều 56, khoản 2 Điều 111, Điều 246 và Điều 257 UNCLOS 1982 và Điều 88 và Điều 301 UNCLOS 1982) cũng như các điều ước quốc tế chuyên biệt về bảo vệ tài nguyên sinh vật biển và môi trường biển nói chung.

2.2 Quyền tài phán đặc quyền của quốc gia mà tàu mang cờ

Mặc dù biển quốc tế được điều chỉnh bởi nguyên tắc tự do biển cả nhưng không có nghĩa là không có trật tự pháp lý và quyền tài phán đối với các hoạt động trên biển quốc tế. về cơ bản, trật tự pháp lý trên biển quốc tế được đảm bảo bởi quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ. Quyền tài phán này xuất phát từ học thuyết đã lỗi thời về “tính lãnh thổ của tàu thuyền” được Pháp viện thường trực quốc tế (còn gọi là Tòa án thường trực công lý quốc tế - PCIJ) đề cập trong phán quyết vụ s.s. Lotus năm 1928. Học thuyết này đối lập với thực tế là, trong những trường hợp nhất định, các tàu thương mại có thể bị khám xét bởi tàu chiến nước ngoài và về nguyên tắc, các tàu hoạt động trong nội thủy và lãnh hải thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển theo nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ.1 Hiện nay, đặc quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ được ghi nhận trong luật tập quán quốc tế cũng như UNCLOS 1982. Khoản 1 Điều 92 UNCLOS 1982 quy định:

“Các tàu thuyền chỉ hoạt động dưới cờ của một quốc gia và, trừ những trường hợp ngoại lệ đã được quy định rõ ràng trong các hiệp ước quốc tế hay trong Công nước này, chỉ thuộc quyền tài phán đặc quyền của quốc gia này khi ở biển quốc tế”.

Theo quyền tài phán này, quốc gia mà tàu mang cờ (là quốc gia đã cấp phép cho tàu được hoạt động dưới cờ của quốc gia) có đặc quyền tài phán đối với các tàu treo cờ của quốc gia đó khi đang ở biển quốc tế. Quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ bao gồm cả quyền lập pháp (ban hành pháp luật điều chỉnh hoạt động của tàu), quyền hành pháp (tổ chức thực thi pháp luật) vạ quyền tư pháp (xử lý, cưỡng chế hành vi vi phạm). Quyền tài phán này cũng mở rộng tới các cá nhân có mặt trên tàu, không phụ thuộc vào quốc tịch của họ. về vấn đề này, Tòa án Luật biển quốc tế (ITLOS) đã tuyên bố trong vụ M/V Saiga năm 1999 rằng:

“Tàu, mọi thứ trên tàu và mọi người có liên quan hoặc có lợi ích trong các hoạt động của tàu... được xem như là một thực thể được gắn liền với quốc gia mà tàu mang cờ. Quốc tịch của những người này thì không liên quan ”.

Trong trường hợp xảy ra sự cố đâm va ở biển quốc tế giữa các tàu treo cờ của các quốc gia khác nhau, phạm vi quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ đã được PCIJ xác định trong vụ s.s. Lotus năm 1928, đó là:

“không có quy tắc nào của luật quốc tế cấm quốc gia coi hành vi vi phạm như là đã được thực hiện trên lãnh thổ của mình và từ đó tiến hành truy tố kẻ phạm tội, nếu như con tàu thuộc về quốc gia và trên con tàu đó, các ảnh hưởng của hành vi vi phạm đã xảy ra”.

Tuy nhiên, báo cáo của ủy ban luật quốc tế (ILC) cho thấy, các thủ tục hình sự trước tòa án nước ngoài trong trường hợp xảy ra sự cố đâm va ở biển quốc tế có thể cấu thành sự can thiệp thái quá đối với hàng hải quốc tế. Vì vậy, Điều 1 và Điều 3 Công ước Brussels năm 1952 về nhất thể hóa các quy tắc liên quan đến tai nạn và đâm va trên biển đã quy định về quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ hoặc của quốc gia mà người phạm tội mang quốc tịch trong trường hợp xảy ra sự cố đâm va hoặc bất kì một tai nạn hàng hải nào khác liên quan đến một con tàu đang đi trên biển. Quy tắc này đã được nhắc lại trong Điều 11 Công ước Giơnevơ 1958 về Biển cả và Điều 97 UNCLOS 1982. Hơn nữa, UNCLOS 1982 còn quy định: Mọi quốc gia đòi hỏi thuyền trưởng của một chiếc tàu mang cờ quốc gia mình, trong chừng mực có thể làm được mà không gây nguy hiểm nghiêm trọng cho con tàu, cho đoàn thủy thủ hay cho hành khách trên tàu, phải giúp đỡ bất kì ai đang gặp nguy khốn trên biển.1 Nghĩa vụ trợ giúp cũng được quy định rõ bởi Công ước năm 1960 về an toàn sinh mạng trên biển (SOLAS) và Công ước năm 1979 về nghiên cứu khoa học biển và cứu hộ.

Theo luật quốc tế, mỗi quốc gia có quyền xác định các điều kiện và thủ tục để cấp quốc tịch cho một con tàu (Điểm a khoản 1 Điều 98 UNCLOS 1982 và Khoản 1 Điều 91 và Điều 94 UNCLOS 1982). Phán quyết của Toà án luật biển, vụ M/V Saiga năm 1999 cũng khẳng định:

“Việc xác định các tiêu chí và thiết lập các thủ tục để ban cấp và tước quốc tịch của các con tàu là các vấn đề nằm trong phạm vi đặc quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ”?

Tuy nhiên, quyền của quốc gia trong việc cấp quốc tịch cho một con tàu cũng có thể bị hạn chế trong trường hợp con tàu đó đã được cấp quốc tịch của một quốc gia khác (Khoản 1 Điều 92 UNCLOS 1982) hoặc trên cơ sở các công ước quốc tế chuyên biệt, ví dụ Công ước của UN về các điều kiện đăng ký tàu thuyền (NƯRC).

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

Như vậy, mối liên hệ pháp lý giữa một quốc gia và một con tàu được phép treo cờ của quốc gia là điều kiện tiên quyết để đảm bảo thực thi hiệu quả quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ. Vì vậy, cần phải có “mối liên hệ về thực chất” giữa quốc gia và các con tàu mang cờ của quốc gia đó (Điều 5 Công ước Gionevơ 1958 về Biển cả và khoản 1 Điều 91 UNCLOS 1982). Khái niệm “mối liên hệ về thực chất” bắt nguồn từ phán quyết trong vụ Nottebohm năm 1955 với quan điểm của Toà án Công lý quốc tế (ICJ) rằng: Một quốc gia không thể yêu sách câc quy định của luật quốc gia liên quan đến ban cấp quốc tịch của quốc gia đó phải được quốc gia khác công nhận:

“trừ khi quốc gia đó đã Hành động phù hợp với mục tiêu chung là tạo ra sự ràng buộc về pháp lý của quốc tịch phù hợp với sự gắn kết về thực chất của cá nhân với quốc gia mà được cho là bảo vệ công dân của mình bằng các biện pháp chống lại các quốc gia khác”

Theo quan điểm của ITLOS trong vụ M/V Saiga năm 1999 và M/V Virginia G năm 2014, việc xác định “mối liên hệ về thực chất” có mục đích là đảm bảo sự thực thi có hiệu quả hơn các trách nhiệm của quốc gia mà tàu mang cờ. Tuy nhiên, Công ước Giơnevơ 1958 về Biển cả và UNCLOS 1982 chưa làm rõ khái niệm “mối liên hệ về thực chất” nên trên thực tế, hiệu lực pháp lý của quốc tịch tàu thuyền thường được xác định bởi cơ quan tài phán quốc tế, ví dụ như ITLOS trong vụ Grand Prince năm 2001 và vụ Tomimaru năm 2007.

Quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ không cho phép sự can thiệp bất hợp pháp từ phía các quốc gia khác đối với tàu thuyền đang hoạt động ở biển quốc tế và treo cờ của quốc gia. Vì vậy, việc xác lập quyền tài phán này có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do hoạt động của các tàu thuyền ở biển quốc tế. Mặt khác, trên cơ sở ràng buộc trách nhiệm của quốc gia mà tàu mang cờ (Điều 94 UNCLOS 1982), nguyên tắc này cũng bảo bảo đảm các hoạt động của tàu thuyền ở biển quốc tế phù hợp với luật quốc gia và luật quốc tế có liên quan.

Tuy nhiên, nguyên tắc quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ không có nghĩa là chỉ các quốc gia mới có quyền treo cờ của quốc gia ưên các con tàu của mình. Theo Điều 7 Công ước Giơnevơ 1958 về Biển cả và Điều 93 UNCLOS 1982, các tổ chức quốc tế cũng có quyền treo cờ của tổ chức quốc tế trên các con tàu của tổ chức đó. Ví dụ, trong nhiều thập kỉ qua, ủy ban chữ thập đỏ quốc tế đã xác định tàu thuyền của tổ chức thông qua cờ mang biểu trưng của tổ chức này. Năm 1956 và 1957, khi triển khai Lực lượng khẩn cấp của Liên hợp quốc (UN Emergency Force) tại Ai Cập, các tàu đã được lực lượng này trao đặc quyền, trong đó một số tàu được phép treo cờ của Liên hợp quốc nhưng chỉ trong một vài trường hợp, trong những trường hợp khác thì các tàu này treo cờ của Liên hợp quốc cùng với cờ của quốc gia. Mặc dù UNCLOS 1982 chưa quy định cụ thể về quyền tài phán đối với những tàu thuyền này, nhưng thực tiễn pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia cho thấy: Nếu tàu thuyền của tổ chức quốc tế liên chính phủ thì hoạt động của tàu thuyền đặt dưới thẩm quyền của tổ chức đó và được sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế. Nếu tàu thuyền của tổ chức quốc tế phi chính phủ, quyền tài phán đôi với hoạt động của tàu thuyền thuộc về quốc gia nơi tổ chức quốc tế đó thành lập và có trụ sở; do đó, bên cạnh cờ của tổ chức quốc tế phi chính phủ, tàu thuyền đó cũng phải treo cờ của quốc gia mà tàu thuyền mang quốc tịch.

2.3 Quyền khám xét đối với tàu thuyền trên biển quốc tế

Theo Điều 95 và Điều 96 UNCLOS 1982, tại biển quốc tế, tàu chiến và tàu nhà nuớc không dùng vào mục đích thương mại được hưởng quyền miễn trừ hoàn toàn về tài phán của bất kì quốc gia nào khác, ngoại trừ quốc gia mà tàu mang cờ. Tuy nhiên, đối với tàu tư nhân hoặc tàu nhà nước dùng vào mục đích thương mại, ngoài thuộc quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ, các tàu thuyền này có thể còn phải chịu sự khám xét (Điều 110 UNCLOS 1982) và truy đuổi (T)iều 111 UNCLOS 1982) của quốc gia khác không phải là quốc gia mà tàu mang cờ. về mặt ý nghĩa, quyền khám xét là nhằm mục đích củng cố trật tự pháp lý quốc tế trên biển quốc tế, trong khi đó, quyền truy đuổi nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của quốc gia ven biển.

Khoản 1 Điều 110 UNCLOS 1982 quy định hai trường hợp mà một tàu chiến khi gặp một tàu nước ngoài ở trên biển quốc tế có thể thực hiện quyền khám xét:

- Việc khám xét xuất phát từ quyền đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế chuyển biệt: Trong các trường hợp này, chỉ những quốc gia thành viên có liên quan đến các điều ước quốc tế chuyên biệt mới có quyền khám xét đối với các tàu thuyền mang cờ của quốc gia thành viên khác. Trên thực tế, một sổ điều ước quốc tế về đánh cá cho phép một quốc gia thành viên cập mạn và điều tra tàu của các quốc gia khác ở biển cả. Ví dụ, Điều 21 của Hiệp định năm 1995 thực thi các điều khoản của UNCLOS 1982 về bảo tồn và quản lý các đàn cá lưỡng cư và di cư xa, Phần V Công ước năm 1992 về bảo tồn các đàn cá ngược sông để sinh sản trong khu vực bắc Thái Bình Dương, Chương VI và VIII Công ước năm 2014 về các biện pháp thực thi và bảo tồn của tổ chức nghề cá tây bắc Đại Tây Dương...

- Việc khám xét tàu nước ngoài xuất phát từ những lý do đúng đắn để nghi ngờ chiếc tàu nước ngoài được sử dụng để thực hiện các hành vi được liệt kê ở khoản 1 Điều 110 UNCLOS 1982. Trong trường hợp này, tàu chiến có thể đưa một chiếc xuồng, dưới sự chỉ huy của một sĩ quan, đến gần chiếc tàu bị tình nghi để kiểm tra các giấy tờ cho phép treo cờ. Sau khi kiểm tra các tài liệu, nếu vẫn còn nghi vẩn thì có thể tiếp tục điều tra trên boong tàu với một thái độ hết sức đúng mực (Khoản 2 Điều 110 UNCLOS 1982). Tuy nhiên, nếu việc nghi ngờ được chứng minh là không có căn cứ thì tàu thuyền bị khám xét được bồi thường về mọi tổn thất hay thiệt hại xảy ra theo khoản 3 Điều 110 UNCLOS 1982.

Những trường hợp được khám xét tàu nước ngoài bao gồm:

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

+ Tàu được sử dụng để cướp biển

Dưới góc độ luật quốc tế, cướp biển là các hành vi được liệt kê ở Điều 101 UNCLOS 1982. Điều khoản này cũng phản ánh luật tập quán quốc tế hiện nay và từ đó, có thể khái quát năm yếu tố của hành vi cưóp biển như sau:

+ Về mặt khách quan: Cướp biển là mọi hành vi dùng bạo lực trái phép nhằm bắt giữ hoặc bất kì sự cướp phá nào. Hành vi này có thể được thực hiện với người hoặc tài sản trên tàu;

- Về mặt chủ quan: Hành vi trái pháp luật phải được thực hiện “vì những mục đích riêng tư”. Vì vậy, cướp biển không thể được thực hiện bởi các tàu thuyền hay phương tiện bay quân sự hoặc nhà nước. Hành vi dùng bạo lực trái phép của các tàu thuyền hay phương tiện bay quân sự hoặc nhà nước chống lại tàu thuyền của một quốc gia khác không phải là hành vi cướp biển mà sẽ bị coi là hành vi dùng vũ lực trái với nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế;

- Về chủ thể: Cướp biển được thực hiện bởi thủy thủ hoặc hành khách trên một chiếc tàu hay một phương tiện bay tư nhân. Theo Điều 102 UNCLOS 1982, hành động cướp biển của. một tàu chiến, một tàu nhà nước hay một phương tiện bay của nhà nước mà đoàn thủy thủ hay đội bay đã nổi loạn gây ra thì được coi là hành động của các phương tiện tư nhân. Một chiếc tàu hay phương tiện bay được xem như là phương tiện cướp biển nếu như người kiểm soát thực sự phương tiện đó có ý định sử dụng nó để thực hiện cướp biển đối với một chiếc tàu hay phương tiện bay khác;1

- Về phương tiện: Cướp biển liên quan đến hai loại tàu hoặc phương tiện bay, đó là tàu/phương tiện bay cướp biển và tàu/phương tiện bay bị cướp biển. Tàu/phương tiện bay cướp biển thực hiện hành vi bạo lực nhằm bắt giữ hoặc bất kì sự cướp phá nào đối với tàu/phương tiện bay khác. Vì vậy, nếu chính thủy thủ đoàn hoặc hành khách của tàu thực hiện tấn công nội bộ thì không bị coi là hành vi cướp biển;

- Về địa điểm: Cướp biển phải được thực hiện ở biển quốc tế hoặc ở một nơi không thuộc quyền tài phán của bất cứ quốc gia nào (Điều 103 UNCLOS 1982 và Điều 101 UNCLOS 1982), ví dụ như Nam Cực. Mặc dù Điều 110 UNCLOS 1982 không đề cập đến vùng đặc quyền kinh tế nhưng trên cơ sở khoản 2 Điều 58 UNCLOS 1982 thì các hành vi bất hợp pháp với các dấu hiệu như trên nếu được tiến hành ở vùng đặc quyền kinh tế cũng có thể bị xem như là hành vi cướp biển.

Việc xác định địa điểm của hành vi cướp biển phải được thực hiện ở biển quốc tế hoặc ở một noi không thuộc quyền tài phán của bất cứ quốc gia nào có ý nghĩa xác định phạm vi áp dụng các quy định của UNCLOS 1982 về quyền khám xét đối với các tàu thuyền nước ngoài. Trên thực tế, các hành vi cướp biển với những dấu hiệu nêu trên (trừ dấu hiệu về địa điểm thực hiện) có thể được thực hiện ở các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển và đương nhiên trong trường hợp đó chúng thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển, các quy định về quyền khám xét của UNCLOS 1982 sẽ không được áp dụng.

Theo tập quán quốc tế và Điều 105 của UNCLOS 1982:

"Ở biển quốc tế, hay ở bất cứ nơi nào khác không thuộc quyền tài phán của bất kì quốc gia nào, mọi quổc gia đều có thể bắt giữ một chiếc tàu hay một phương tiện bay đã trở thành cướp biển, hoặc một chiếc tàu hay một phương tiện bay bị chiếm đoạt sau một hành động cướp biển và đang nằm trong tay bọn cướp biển, và đều có thể bắt giữ người và của cải ở trên con tàu hay phương tiện bay đó. Các tòa án của quốc gia đã tiến hành việc bắt đó có thể công bổ các hình phạt cũng như các biện pháp áp dụng đối với chiếc tàu, phương tiện bay hay của cải, trừ những người lương thiện trong cuộc".

Như vậy, đối với tội phạm cướp biển thì nguyên tắc quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ đã bị thay thế bởi nguyên tắc quyền tài phán phổ cập nhằm mục đích bào vệ đời sống của con người cũng như lợi ích chung của cộng đồng quốc tế về tự do hàng hải.

>> Xem thêm:  Quần đảo là gì ? Quốc gia quần đảo là gì ? Vùng nước quần đảo được hiểu thế nào ?

+ Tàu được sử dụng để buôn bán nô lệ

Quyền khám xét đối với một con tàu nước ngoài được sử dụng để buôn bán nô lệ được ghi nhận trong luật tập quán quốc tế, một số điều ước quốc tế về xóa bỏ và ngăn chặn việc buôn bán nô lệ, Điều 23 Công ước Giơnevơ 1958 về Biển cả và Điều 110 UNCLOS 1982. Mọi quốc gia đều thi hành các biện pháp có hiệu quả để ngăn ngừa và trừng trị việc chuyên chở nô lệ trên các tàu được phép mang cờ của nước mình, và để ngăn ngừa việc lạm dụng sắc cờ của mình vào mục đích nói trên (Điều 99 UNCLOS 1982).

Theo khoản 2 Điều 1 Công ước năm 1926 về Nô lệ:

“Buôn bán nô lệ bao gồm mọi hành vi liên quan đến việc đoạt được, giành được hay chuyển nhượng một người với mục đích bắt họ làm nô lệ; mọi hành vi liên quan đến việc kiếm được một nô lệ để bán hay trao đổi họ; mọi hành vi chuyển nhượng thông qua việc bán hay trao đổi một nô lệ có được với mục đích đem bán hoặc trao đổi họ, và nói chung, mọi hành vi buôn bán hay vận chuyển nô lệ".

Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 Tuyên bố: Nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức phải bị cấm. Điều 1 Công ước năm 1956 bổ sung Công ước năm 1926 về Nô lệ cũng đề cập thêm bốn hình thức một người ở trong tình trạng nô lệ, đó là: Nô lệ gán nợ; nông nô; cưỡng ép kết hôn và buôn bán phụ nữ; buôn bán và bóc lột trẻ em dưới 18 tuổi.[1] [2] Ngoài ra, lời nói đầu của Công ước châu Âu năm 2005 về hành động chống buôn người tuyên bố: Ngày nay buôn bán người có thể gây ra kết quả là nạn nhân trở thành nô lệ. Như vậy, theo quan điểm hiện nay, một số hình thức buôn bán người có thể bị coi là “buôn bán nô lệ”. Điều này có nghĩa là, một con tàu bị nghi là buôn bán người ở biển quốc tế cũng có thể bị khám xét trên cơ sở điểm b khoản 1 Điều 110 UNCLOS 1982.

+ Tàu được sử dụng để thực hiện các cuộc phát sóng không được phép

Phát sóng không được phép có thể gây ra rất nhiều vấn đề, ví dụ như làm nhiễu điện các phương tiện phát sóng được cấp phép và làm ảnh hưởng đến tính kịp thời của các cuộc gọi cấp cứu... Tuy nhiên, Công ước Giơnevơ 1958 về Biển cả không quy định về trấn áp hành vi phát sóng không được phép. Công ước châu Âu năm 1965 về ngăn chặn phát sóng được chuyển giao từ các trạm bên ngoài lãnh thổ của quốc gia cũng chỉ ghi nhận quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ. Tuy nhiên, UNCLOS 1982 cho phép tàu chiến nước ngoài có quyền khám xét đối với tàu thực hiện phát sóng không được phép.

Theo khoản 2 Điều 109 UNCLOS 1982, “phát sóng không được phép” là các cuộc phát thanh và vô tuyến truyền hình nhằm vào quảng đại quần chúng từ một chiếc tàu hay một thiết bị ở biển quốc tế vi phạm các quy chế quốc tế, trừ việc phát các tín hiệu cấp cứu. Các quốc gia phải hợp tác để trấn áp việc phát sóng trái phép ở biển quốc tế. Theo khoản 3 Điều 109 UNCLOS 1982, người nào tiến hành phát sóng trái phép đều có thể bị truy tố trước tòa án của:

(i) quốc gia mà chiếc tàu phát sóng mang cờ;

(ii) quốc gia đăng ký của thiết bị;

(iii) quốc gia mà người đó là công dân;

>> Xem thêm:  Vùng nước quần đảo là gì ? Chế độ pháp lý vùng nước quần đảo

(iv) mọi quốc gia mà ở đó các cuộc phát sóng có thể thu được;

(v) mọi quốc gia có các đài thông tin vô tuyến được phép đã bị nhiễu do các cuộc phát sóng đó.

Ở biển quốc tế, một quốc gia có quyền tài phán theo đúng khoản 3 .Điều 109, có thể, theo đúng Điều 110, bắt giữ bất cứ ai hơậc giữ bất kì chiếc tàu nào truyền các cuộc phát sóng không được phép và tịch thu phương tiện phát sóng (Khoản 4 Điều 109 UNCLOS 1982). Như vậy, không giống với trường hợp tàu được sử dụng để buôn bán nô lệ và cướp biển, Điều 109 UNCLOS 1982 không xác lập quyền tài phán phổ cập liên quan đến trấn áp việc phát sóng không được phép.

+ Tàu không quốc tịch

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tàu thuyền không quốc tịch có thể là do tàu treo cờ của nhiều quốc gia2 hoặc bị quốc gia đã cấp phép treo cờ hủy bỏ việc đăng ký của tàu thuyền vì phương tiện này liên tục vi phạm pháp luật của quốc gia đó, hoặc do tàu thuyền hủy bỏ đăng ký quốc tịch của mình mà không yêu cầu một quốc tịch khác.

Theo luật tập quán quốc tế, một tàu thuyền không có quốc tịch thì không được quốc gia nào bảo vệ. Vì vậy, khoản 1 và

khoản 2 Điều 110 UNCLOS 1982 quy định: Một tàu chiến hoặc một phương tiện bay quân sự được khám xét và kiểm tra các giấy tờ cho phép mang cờ của tàu thuyền khi có căn cứ hợp lý để nghi ngờ rằng tàu thuyền này không có quốc tịch. Tuy nhiên, luật biển quốc tế hiện nay chưa quy định rõ về hệ quả của tình trạng không quốc tịch, tức là quốc gia nào sẽ có quyền tài phán với đối với các con tàu không quốc tịch. Trên cơ sở thực tiễn của Mỹ, học giả O’ Connel cho rằng, quyền tài phán đối với tàu không quốc tịch thuộc về quốc gia mà chủ sở hữu tàu đó có quốc tịch. Hơn nữa, trong trường hợp tàu không quốc tịch thì cá nhân hiện diện trên tàu đó vẫn có thể được hưởng bảo hộ công dân của quốc gia mà người đó có quốc tịch. Như vậy, ít nhất cũng rõ ràng là, khác với trường hợp tàu được sử dụng để cướp biển hay buôn bán nô lệ, UNCLOS 1982 không quy định quyền tài phán phổ cập đối với tàu không quốc tịch.

+ Tàu cố tình mập mờ về quốc tịch

Theo khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 110 UNCLOS 1982, một tàu chiến hoặc phương tiện bay quân sự có quyền khám xét và kiểm tra một con tàu nước ngoài khi có lý do họp lý để cho rằng, mặc dù chiếc tàu này treo cờ nước ngoài hoặc từ choi treo cờ của mình nhưng thực ra con tàu đó có cùng quốc tịch với quốc tịch của tàu chiến/phương tiện bay thực hiện việc khám xét. Trong trường hợp này, các quốc gia đều thừa nhận rằng tàu chiến của quốc gia có thể bắt giữ và đưa tới cảng gần nhất của mình để trừng phạt đối với bất cứ con tàu nước ngoài nào, mặc dù không được phép nhưng lại đang hoạt động dưới cờ của quốc gia mà tàu chiến thực hiện việc khám xét có quốc tịch.

>> Xem thêm:  Thềm lục địa là gì ? Quy định về thềm lục địa địa chất và thềm lục địa pháp lý

2.4 Quyền truy đuổi đối với tàu thuyền trên biển quốc tế

Truy đuổi là đuổi theo một cách họp pháp một con tàu nước ngoài ở biển quốc tế sau khi tàu đó vi phạm pháp luật của quốc gia thực hiện việc truy đuổi trong các không gian biển thuộc quyền tài phán của quốc gia thực hiện việc truy đuổi, về bản chất, quyền truy đuổi là sự tiếp nối các thẩm quyền mà cảnh sát quốc gia ven biển thực hiện trong các vùng biển thuộc quyền tài phán của mình ra ngoài biển quốc tế. Hiện nay, quyền truy đuổi được quy định tại Điều 23 Công ước Giơnevơ 1958 về Biển cả và Điều 111 UNCLOS 1982. Ngoài ra, luật tập quán quốc tế cũng thừa nhận quốc gia ven biển có quyền thực thi quyền lực của mình ở biển quốc tế trên cơ sở quyền truy đuổi. Trên cơ sở luật quốc tế hiện hành và được làm rõ thêm bởi quan điểm của ITLOS trong vụ M/V Saiga năm 1999, việc truy đuổi được coi là hợp pháp khi đáp ứng được tất cả các điều kiện sau (Điều 111 UNCLOS 1982):

- Về phương tiện: Phương tiện dùng để truy đuổi phải là tàu chiến, phương tiện bay quân sự hoặc các tàu hay phương tiện bay khác có mang các dấu hiệu bên ngoài chỉ rõ ràng rằng, các tàu hay phương tiện bay đó được sử dụng cho một cơ quan nhà nước và được phép làm nhiệm vụ này (khoản 5 Điều 111 UNCLOS 1982);

- Về căn cứ thực hiện việc truy đuổi: Việc truy đuổi phải trên cơ sở những lý do đúng đắn khiến cho nhà đương cục có thẩm quyền của quốc gia ven biển cho rằng chiếc tàu này đã vi phạm các luật và quy định của quốc gia đó. Vì vậy, vấn đề cơ bản là phải xác định được hành vi trái phép mà con tàu bị cáo buộc (khoản 4 Điều 111 UNCLOS 1982);

- Về địa điểm: Bởi vì về thực chất, việc truy đuổi là sự mở rộng tạm thời quyền tài phán của quốc gia ven biển ra ngoài biển quốc tế nên việc truy đuổi phải được tiển hành khi con tàu nước ngoài hay một trong những chiếc xuồng của nó đang ở trong nội thủy, trong vùng nước quần đảo, trong lãnh hải hay trong vùng tiếp giáp lãnh hải của quốc gia truy đuổi (khoản 1 Điều 111 UNCLOS 1982);

Việc truy đuổi chỉ có thể tiếp tục ở ngoài ranh giới của lãnh hải hay vùng tiếp giáp lãnh hải với điều kiện là việc truy đuổi được tiến hành liên tục, không bị gián đoạn. Không nhất thiết là chiếc tàu ra lệnh cho tàu nước ngoài đang đi trong lãnh hải hay trong vùng tiếp giáp lãnh hải dừng lại cũng phải có mặt tại các vùng biển ấy khỉ mà chiếc tàu nước ngoài này nhận được lệnh. Nếu chiếc tàu nước ngoài ở trong vùng tiếp giáp, được quy định ở Điều 33, việc truy đuổi chỉ có thể bắt đầu nếu tàu đó đã vi phạm các quyền, mà việc thiết lập vùng tiếp giáp có nhiệm vụ bảo vệ. Quyền truy đuổi được áp dụng mutatis mutandis (với những sửa đổi cần thiết về chi tiết) đối với những hành động vi phạm các luật và quy định của quốc gia ven biển có thể áp dụng cho vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa, kể cả các vùng an toàn bao quanh các thiết bị ở thềm lục địa, nếu các vi phạm này đã xảy ra trong các vùng nói trên;

- Về thời điểm: Việc truy đuổi chỉ có thể được bắt đầu sau khi đã phát tín hiệu nhìn hoặc nghe (ánh sáng hoặc âm thanh) để dừng tàu, ở một cự ly cần thiết để chiếc tàu bị truy đuổi có thể nhận biết được (khoản 4 Điều 111 UNCLOS 1982);

- Về cách thức tiến hành: Việc truy đuổi phải liên tục, không gián đoạn. Phương tiện bay nào phát lệnh dừng lại phải tự mình truy đuổi chiếc tàu cho đến lúc một chiếc tàu hay phương tiện bay khác của quốc gia ven biển, sau khi được phương tiện bay nói trên thông báo, đã đến những vị trí để tiếp tục cuộc truy đuổi nếu như phương tiện đầu tiên không thể tự mình giữ được chiếc tàu. Để chứng minh cho việc bắt một chiếc tàu dừng lại ở ngoài lãnh hải là đúng, thì riêng việc phát hiện chiếc tàu này đã vi phạm hay bị nghi ngờ là vi phạm là chưa đủ, mà còn phải xác định đồng thời xem nó có bị phương tiện bay hay tàu khác yêu cầu dừng lại và việc truy đuổi này phải không hề bị gián đoạn (điểm b khoản 6 Điều 111 UNCLOS 1982);

- Về thời điểm kết thúc: Quyền truy đuổi chấm dứt ngay khi con tàu bị truy đuổi vào lãnh hải của quốc gia mà tàu đó có quốc tịch hoặc lãnh hải của một quốc gia thứ ba (khoản 3 Điều 111 UNCLOS 1982). Trường hợp quốc gia tiến hành truy đuổi không chứng minh được lý do để sử dụng quyền truy đuổi mà đã bắt tàu phải dừng lại hay bắt giữ tàu thì phải bồi thường mọi tổn thất hay thiệt hại cho tàu đó (khoản 8 Điều 111 UNCLOS 1982).

Cuối cùng, cần phải lưu ý rằng, chế độ pháp lý của biển quốc tế cần được đặt trong mối liên hệ với chế độ pháp lý của các vùng biển khác, đặc biệt là vùng đặc quyền kinh tế. Điều 86 UNCLOS 1982 quy định, các quyền ở biển quốc tế không ảnh hưởng đến “các quyền tự do mà tất cả các quốc gia được hưởng trong vùng đặc quyền kinh tế theo Điều 58”. Điều 58 lại dẫn chiếu đến Điều 87, do đó, ba quyền (tự do hàng hải, hàng không, đặt dây cáp và ống dẫn ngầm) trong số sáu quyền tự do biển cả đã được xác định trong Điều 87 thì cũng được áp dụng cho vùng đặc quyền kinh tế. Ba quyền còn lại theo quy định của Điều 87 thì không phải là các quyền tự do ở vùng đặc quyền kinh tế. Ngoài ra, các điều từ Điều 88 đến Điều 115 UNCLOS 1982 về chế độ pháp lý biển quốc tế cũng được áp dụng ở vùng đặc quyền kinh tế trong chừng mực mà chúng không mâu thuẫn với phần này. Do đó, .tất cả các quy định về biển quốc tế liên quan đến tàu thuyền và địa vị pháp lý của chúng, các quy định cấm và cưỡng chế cũng được áp dụng với vùng đặc quyền kinh tế. Việc thực hiện các quyền được quy định từ Điều 88 đến Điều 115 trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế chỉ bị hạn chế bởi nghĩa vụ tôn trọng quyền và lợi ích của quốc gia ven biển trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Vùng đặc quyền kinh tế là gì ? Chế độ pháp lý đối với vùng đặc quyền kinh tế

>> Xem thêm:  Vùng tiếp giáp lãnh hải là gì ? Quy định về vùng tiếp giáp lãnh hải