1. Vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia

Vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia là toàn bộ các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven bờ.

Theo quy định của Công ước luật biển năm 1982, các vùng này bao gồm: Nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa.

Dưới đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu cụ thể về các vùng biển Nội thuỷ,lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa này theo quy định của pháp luật.

2. Nội thủy

Vùng nội thủy của một quốc gia có chủ quyền là toàn bộ vùng nước và đường thủy trong phần đất liền, và được tính từ đường cơ sở mà quốc gia đó xác định vùng lãnh hải của mình trở vào. Nó bao gồm toàn bộ các dạng sông, suối và kênh dẫn nước, đôi khi bao gồm cả vùng nước trong phạm vi các vũng hay vịnh nhỏ.

Theo Công ước Liên hiệp quốc về luật biển, các quốc gia có biển được tự do trong việc áp dụng luật pháp của mình trong việc điều chỉnh bất kỳ việc sử dụng nào liên quan tới nội thủy cũng như các nguồn tài nguyên trong đó. Tàu thuyền nước ngoài không có quyền tự do đi qua vùng nội thủy, kể cả qua lại không gây hại. Đây là điểm khác biệt chính giữa nội thủy và lãnh hải. Để đi vào vùng nội thủy, tàu thuyền nước ngoài phải xin phép cơ quan chức năng có thẩm quyền và chỉ được đi lại theo đúng hành trình đã được cấp phép.

- Cách phân định vùng nội thủy: Vùng nội thủy được phân định và căn cứ trên đường cơ sở duyên hải. Khi tính toán nội thủy thì cũng phải cân nhấc đến những cửa sông hay các vịnh nhỏ mà toàn phần thuộc về quốc gia ven biển thì theo quy thức như sau:

  1. Nếu một con sông chảy trực tiếp ra biển thì đường cơ sở sẽ là đường thẳng đi ngang qua cửa sông, nối các điểm ở mực nước thấp nhất (tức mực nước ròng đo trung bình trong nhiều năm) trên hai bờ con sông.
  2. Nếu một vịnh nhỏ thuộc toàn phần về một quốc gia thì cần xác định xem đó là một vịnh "đúng" (theo định nghĩa địa hình) hay chỉ là đoạn thụt vào tự nhiên của bờ biển (theo khoản 2 điều 10 phần II của Công ước). Một vũng hay vịnh được coi là "đúng" nếu diện tích của phần lõm vào, bị cắt bởi đường cơ sở, lớn bằng hoặc là hơn diện tích của hình bán nguyệt được tạo ra với đường kính bằng chính chiều dài của phân đoạn đường cơ sở tại phần lõm vào đó. Nếu trong đoạn lõm vào này có một số đảo thì hình bán nguyệt tưởng tượng sẽ có đường kính bằng tổng chiều dài các phân đoạn của các đường cơ sở. Ngoài ra, chiều dài của đường kính này không vượt quá 24 hải lý. Vùng nước bên trong của đường cơ sở tưởng tượng đó cũng được coi là nội thủy. Quy tắc này không áp dụng cho các vũng, vịnh đã thuộc chủ quyền của một quốc gia nào đó mang tính chất "lịch sử" hoặc trong bất kỳ trường hợp nào mà việc áp dụng đường cơ sở thẳng là hợp lý.

Nội thủy theo quy định của UNCLOS 1982 được quy định:

- Nội thủy là vùng biển nằm bên trong đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng (vùng nước bên trong đường cơ sở quần đảo là vùng nước quần đảo). Xem thêm UNCLOS: Đường cơ sở. Nội thủy là vùng biển gần ngay sát bờ biển, bao gồm cả vùng nước cảng biển và vùng nước bên trong đường đóng cửa vịnh. Nội thủy không bao gồm vùng nước hay hồ nước bên trong lãnh thổ đất liền, như các hồ Dầu Tiếng của Việt Nam, Biển Hồ của Campuchia hay Biển Caspia.

Trong nội thủy, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối tương tự như đối với đất liền. Công ước không có quy định trực tiếp về chủ quyền đối với nội thủy nhưng gián tiếp thông qua quy định về quy chế pháp lý của lãnh hải: “Chủ quyền của quốc gia ven biển mở rộng, vượt ra ngoài lãnh thổ đất liền và nội thủy và vùng nước quần đảo trong trường hợp quốc gia quần đảo,…” Tuy nhiên, chủ quyền ở lãnh hải khác với chủ quyền ở nội thủy. Trong khi chủ quyền ở lãnh hải bị giới hạn bởi quyền qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài, thì chủ quyền ở nội thủy về cơ bản là đầy đủ và tuyệt đối.

Do quốc gia ven biển có chủ quyền đầy đủ và tuyệt đối như trên đất liền đối với nội thủy, mọi tàu thuyền của nước ngoài muốn đi vào hoặc có hoạt động bất kỳ nào trong nội thủy cũng cần phải xin phép quốc gia ven biển trước khi thực hiện. Ngoại lệ duy nhất đối với chủ quyền của quốc gia ven biển ở trong nội thủy được quy định ở Điều 8 Điều này quy định:

“2. Ở nơi mà việc thiết lập đường cơ sở thẳng dẫn đến khoanh vùng một khu vực biển thành nội thủy, mà khu vực đó trước đây không có quy chế đó, quyền qua lại vô hại như được quy định ở Công ước này sẽ tồn tại trong những vùng biển đó.” (2. Where the establishment of a straight baseline in accordance with the method set forth in article 7 has the effect of enclosing as internal waters areas which had not previously been considered as such, a right of innocent passage as provided in this Convention shall exist in those waters.)

Theo quy định này, nếu một quốc gia do vạch đường cơ sở thẳng mà biến một vùng biển nào đó trước đây không phải là nội thủy thành nội thủy thì quyền qua lại vô hại vẫn được áp dụng trong khu vực đó. Điều này có nghĩa một phần nội thủy bên trong đường cơ sở thẳng sẽ thực tế có quy chế tương tự như lãnh hải. Lưu ý rằng khoản 2, Điều 5 này chỉ áp dụng đối với trường hợp nội thủy tạo ra bởi đường cơ sở thẳng mà không áp dụng cho đường cơ sở thông thường và đường cơ sở quần đảo.

3. Lãnh hải

Lãnh hải hay hải phận là vùng biển ven bờ nằm giữa vùng nước nội thủy và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia (tức vùng đặc quyền kinh tế). Chủ quyền của quốc gia đối với vùng lãnh hải không phải là tuyệt đối như đối với các vùng nước nội thủy, do có sự thừa nhận quyền qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải. Cũng lưu ý rằng chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng hoàn toàn và riêng biệt đối với vùng trời trên lãnh hải cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của vùng lãnh hải này. Trong vùng trời phía trên lãnh hải, các quốc gia khác không có quyền tự do qua lại vô hại đối với các phương tiện bay (máy bay chẳng hạn). Đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, quốc gia ven biển cũng có toàn quyền định đoạt.

Quốc gia ven biển sẽ có những quyền sau đối với lãnh hải:

- Quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường qua lại và phân chia các luồng giao thông dành cho tàu thuyền nước ngoài khi đi qua lãnh hải của mình. Các tuyến đường này phải phù hợp với các quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 và các luật quốc tế có liên quan khác.

- Trong trường hợp có sự vi phạm, đe dọa hòa bình, an ninh, trật tự của mình, quốc gia ven biển có quyền sử dụng các biện pháp thích hợp để bảo vệ chủ quyền, kể cả đình chỉ không cho qua lại không gây hại. Việc tạm thời đình chỉ này chỉ có hiệu lực quốc tế khi đã được công bố theo đúng các thủ tục quy định và không có sự phân biệt đối xử đối với tàu thuyền nước ngoài khi được thực hiện. Quốc gia ven biển cũng có thể cho phép tàu thuyền nước ngoài có được khả năng tạm dừng, tạm trú khi thực hiện quyền qua lại không gây hại trong các trường hợp bất khả kháng (force majeure) như: mưa bão, thiên tai, chiến tranh v.v. hay các sự cố hàng hải có thể gây nguy hiểm đến sự an toàn hàng hải hay tính mạng hành khách.

Quốc gia khác có những quyền sau đối với lãnh hải:

- Có quyền qua lại không gây hại. Đây là 1 truyền thống mang tính tập quán. Quyền này được thừa nhận vì mục đích phát triển, hợp tác, kinh tế, hàng hải của cộng đồng nói chung cũng như của từng quốc gia.

- Qua lại không gây hại phải được hiểu như là việc đi lại nhưng không gây tổn hại đến hòa bình, an ninh, trật tự hay các lợi ích chính đáng của quốc gia ven biển. Danh sách các hoạt động không liên quan đến hoạt động qua lại mà tàu thuyền nước ngoài không được phép thực hiện đã được kê trong điều 19 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982. Các quốc gia ven biển không được phép đặt điều kiện cho tàu thuyền nước ngoài khi đi qua lãnh hải của mình như: phải xin phép hoặc thông báo trước.

4. Vùng tiếp giáp lãnh hải

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm liền kề vùng lãnh hải. Theo khoản 2 điều 33 Công ước Liên hiệp quốc về luật biển 1982 quy định: "The contiguous zone may not extend beyond 24 nautical miles from the baselines from which the breadth of the territorial sea is measured." Tạm dịch: "Vùng tiếp giáp lãnh hải không được mở rộng quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở mà từ đó bề rộng của lãnh hải được đo đạc."

Vùng tiếp giáp lãnh hải của một quốc gia không phải là vùng mà quốc gia đó có đầy đủ mọi thẩm quyền tài phán. Tuy nhiên, trong vùng tiếp giáp lãnh hải của một quốc gia thì các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đó có các quyền chủ quyền sau:

  1. Ngăn chặn sự vi phạm các luật hay quy định của quốc gia đó về hải quan, tài chính, di cư hay y tế trong phạm vi lãnh thổ hay lãnh hải của mình;
  2. Trừng phạt sự vi phạm các luật và quy định trên đây, đã được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ hay lãnh hải của quốc gia đó.

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngay bên ngoài của lãnh hải, và chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đây là vùng biển có vẻ ít được các quốc gia quan tâm, cho đến gần đây chỉ có khoảng 90 quốc gia xác lập vùng tiếp giáp lãnh hải. Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng từ sau khi Công ước Luật Biển được thông qua đã có ngày càng nhiều quốc gia xác lập vùng biển này. Theo lý giải của Tổng thư ký Liên hợp quốc trong một báo cáo năm 1992, có hai nguyên nhân chính cho xu hướng ngày:

- Vấn đề liên quan đến vận chuyển, mua bán chất ma túy đặt ra yêu cầu các quốc gia ven biển phải tăng cường các biện pháp ngăn chặn trên biển, và

- sự phát triển kỹ thuật liên quan đến trục vớt cổ vật dưới nước.

Chỉ có ba điều khoản của UNCLOS điều chỉnh thực chất đến quy chế của vùng biển này, cụ thể Điều 33, 111 và 303. Điều 33 UNCLOS 1982 quy định vùng tiếp giáp lãnh hải rộng tối đa 24 hải lý tính từ đường cơ sở.

Trước đó, theo Công ước Geneva về Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải năm 1958 (CTS), vùng tiếp giáp lãnh hải là một phần của biển cả và không được vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở (xem thêm UNCLOS: Đường cơ sở). Đến Hội nghị UNCLOS III các quốc gia đồng ý lãnh hải rộng 12 hải lý, và xác lập thêm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), do đó đẩy biển cả ra xa khỏi đường cơ sở tối đa 200 hải lý. Điều này dẫn đến quy định tối đa 24 hải lý ở Điều 33 nêu trên.

5. Vùng đặc quyền kinh tế

Trong luật biển quốc tế, vùng đặc quyền kinh tế (tiếng Anh: Exclusive Economic Zone - EEZ; tiếng Pháp: zone économique exclusive- ZEE) là vùng biển mở rộng từ các quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo, nằm bên ngoài và tiếp giáp với lãnh hải. Nó được đặt dưới chế độ pháp lý riêng được quy định trong phần V - Vùng đặc quyền kinh tế của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 , 1986. trong đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển (hay quốc gia quần đảo), các quyền cũng như các quyền tự do của các quốc gia khác đều được điều chỉnh bởi các quy định thích hợp của Công ước này. Vùng biển này có chiều rộng 200 hải lý (1 hải lý = 1,852 km) tính từ đường cơ sở, ngoại trừ những chỗ mà các điểm tạo ra đó gần với các quốc gia khác. Trong khu vực đặc quyền kinh tế, quốc gia có đặc quyền khai thác và sử dụng các tài nguyên biển. Nó là một trong các vùng mà quốc gia có quyền chủ quyền.

Khái niệm này của các quốc gia được phân chia vùng đặc quyền kinh tế đã cho phép kiểm soát tốt hơn các vấn đề trên biển (nằm ngoài giới hạn lãnh thổ mà quốc gia có đầy đủ chủ quyền) đã thu được sự chấp thuận của đa số quốc gia vào cuối thế kỷ XX và đã được gắn với sự thừa nhận quốc tế theo Công ước Liên hiệp quốc về luật biển thứ ba năm 1982.

Vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone – EEZ) là một trong hai vùng biển mới được xác lập theo tại UNCLOS III (bên cạnh Vùng đáy biển quốc tế). Trước UNCLOS 1982, bên ngoài của lãnh hải là biển cả với vùng tiếp giáp lãnh hải là một phần của biển cả. Với việc xác lập vùng EEZ biển cả bị đẩy ra xa bờ hơn và do đó bị thu hẹp đáng kể; bên cạnh đó vùng tiếp giáp lãnh hải sẽ chồng lấn lên vùng EEZ.

Quy chế pháp lý của vùng EEZ được hình thành từ ý tưởng của Kenya và của các quốc gia Carribean lần lượt vào năm 1971 và 1972. Năm 1971 Kenya đệ trình ý tưởng về một vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý thuộc thẩm quyền của quốc gia ven biển về mặt tài nguyên thiên nhiên, trong khi quyền tự do hàng hải vẫn được bảo đảm. Năm 1972, trong Tuyên bố Santo Domigo được thông qua tại Hội nghị đặc biệt của các quốc gia vùng Carribean về các vấn đề biển đã đề xuất ý tưởng về ‘vùng biển di ản’ (patrimonial sea) có quy chế tương tự như ý tưởng của Kenya. Các đề xuất này đã nhận được đồng thuận tại UNCLOS III.

6. Thềm lục địa

Thềm lục địa là một phần của rìa lục địa, từng là các vùng đất liền trong các thời kỳ băng hà còn hiện nay là các biển tương đối nông (biển cạn) và các vịnh. Các thềm lục địa có độ dốc thoải đều (1-2°) và thông thường kết thúc bằng các sườn rất dốc (hay còn gọi là đứt gãy thềm lục địa). Đáy biển phía dưới các đứt gãy là dốc lục địa có độ dốc cao hơn rất nhiều so với thềm lục địa. Tại chân sườn nó thoải đều, tạo ra bờ lục địa và cuối cùng hợp nhất với đáy đại dương tương đối phẳng, có độ sâu đạt từ 2.200 đến 5.500 m.

- Thềm lục địa được quy định lần đầu tiên trong Công ước Geneva về Thềm lục địa năm 1958. Điều 1 Công ước định nghĩa thềm lục địa là: “vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển tiếp liền bờ biển nhưng nằm phía ngoài lãnh hải, đến độ sâu 200 mét hoặc vượt qua mức đó, đến nới mà độ sâu của vùng nước phía trên cho phép khai thác tài nguyên thiên nhiên của khu vực nói trên”.

=> Định nghĩa này bảo đảm tất cả các quốc gia đều có một thềm lục địa tối thiểu đến độ sâu 200 mét nước, đồng thời tạo điều kiện cho các quốc gia có công nghệ và kỹ thuật phát triển có thể mở rộng thêm thềm lục địa của mình nếu khả năng khai thác có thể thực hiện được. Một mặt, định nghĩa này bảo đảm khả năng khai thác tối ưu của con người đối với thềm lục địa khi khuyến khích các quốc gia phát triển công nghệ, kỹ thuật để có thềm lục địa rộng hơn; mặt khác, định nghĩa này tạo bất lợi đương nhiên cho các quốc gia kém phát triển, đang phát triển hoặc các quốc gia vừa mới giành độc lập trong giai đoạn đó – những nước có công nghệ, kỹ thuật kém hẳn so với các quốc gia đế quốc, thực dân tại thời điểm đó. Với những bất cập như thế, Hội nghị Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ III (UNCLOS III), với đa phần các quốc gia tham dự là những nước bất lợi nêu trên – đã có điều chỉnh công bằng hơn.

- Định nghĩa và cách xác định thềm lục địa theo UNCLOS 1982 tại Điều 76 UNCLOS quy định:

“Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển mở rộng bên ngoài lãnh hải theo sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền đến mép ngoài của rìa lục địa, hoặc đến khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải nếu rìa lục địa không mở rộng đến khoảng cách đó.”

Định nghĩa này loại bỏ yếu tố “khả năng khai thác” và bám sát vào điều kiện tự nhiên của đáy biển. Trong mọi trường hợp quốc gia ven biển có tối thiểu 200 hải lý thềm lục địa. Nếu rìa lục địa tự nhiên vượt quá 200 hải lý thì quốc gia ven biển có thể có thềm lục địa pháp lý rộng hơn 200 hải lý (thường gọi là thềm lục địa mở rộng hoặc thềm lục địa vượt quá 200 hải lý). Tuy nhiên, thềm lục địa không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500 mét.

Yếu tố quan trọng nhất để xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa là xác định đúng mép của rìa lục địa (outer edge of the continental margin). Rìa lụa địa là phần kéo dài của đất liền chìm dưới biển, bao gồm thềm (shelf), dốc (slope) và bờ (rise) (xem ảnh dưới, nguồn: Britannica). Điều 76(4) đưa ra hai phương pháp mà quốc gia ven biển có thể lựa chọn: (a) theo độ dày trầm tích của đáy biển, hoặc (b) theo khoảng cách với chân dốc lục địa. Cả hai cách thức này đều mang nặng tính kỹ thuật và đòi hỏi chuyên môn trong các lĩnh vực địa chất, địa lý, địa mạo và hải dương học.

Trân trọng!