1. Các ý kiến chung quanh việc bô trí phòng xử án
Trong chương trình “60 phút Mở” số đầu tiên của Đài truyền hình Việt Nam (VTV) phát vào sáng chủ nhật 10- 5-2015, khi người dẫn chương trình của VTV có đặt câu hỏi với nhóm sinh viên Trường Đại học Kiểm sát và hỏi ý kiến các diễn giả về dự thảo điểu luật Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) quy định về phòng xử án: “Phía trên của phòng xử án gồm vị trí ngồi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và Thư ký Tòa án. Hội đồng xét xử ngồi chính giữa; Kiểm sát viên ngồi bên phải, Thư ký ngồi bên trái Hội đồng xét xử. Phía dưới của phòng xử án gồm vị trí ngồi của những người tham gia tố tụng và những người tham dự phiên tòa. Người bào chữa ngồi bên trái, người giám định và người phiên dịch ngồi bên phải Hội đồng xét xử...”.
Khi đó, một bạn sinh viên đã nhanh nhẹn trả lời câu hỏi: ‘Việc bố” trí của Tòa án như vậy là hoàn toàn hợp lý vì Tòa án và Viện kiểm sát đại diện cho quyền lực nhà nước, mà quyền lực nhà nước là quyền lực của Nhân dân, vì Nhân dân...”. Tại Chương trình, một diễn giả đã lấy ví dụ phòng xử án tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nắng để giối thiệu thực tế về thiết kế vị trí chỗ ngồi ngang bằng nhau, thể hiện sự bình đẳng giữa đại diện Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội và người bào chữa thực hiện chức năng bào chữa để Ban soạn thảo tham khảo. Từ cuộc đôì thoại cởi mở về một dự thảo điều luật hoàn toàn mới, gợi ra nhiều suy nghĩ về việc phân định và thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam.
Liên quan đến lịch sử thiết kế, bô' trí chỗ ngồi bên buộc tội và bên gỡ tội, trong quá trình tham gia sửa đổi, bổ sung Bộ luật tô' tụng hình sự năm 2003, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã có khảo sát thực tế mô hình phòng xử án ở nhiều Tòa án địa phương trong nước và một sô' quốc gia. Đáng chú ý, trong Hội thảo về phòng xử án do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức vào tháng 11-2015 tại Thành phô' Hồ Chí Minh, một luật gia đã có bài tham luận, cung cấp một sô' thông tin khá thú vị về lịch sử bô' trí phòng xử án ở Việt Nam được đăng tải trong Tập san Tư pháp sô' 9 năm 1965, trong đó việc bô' trí vị trí ngồi giữa bên buộc tội và bên gỡ tội ngang bằng nhau, thể hiện ở sơ đồ như sau:
1. Chỗ khai của nhân chứng và giám định viên để riêng. Nếu có chỗ, nên để chếch để khỏi quay lưng vào quần chúng dự phiên tòa.
2. Trong phiên tòa dùng máy phóng,-thanh thì cần chú ý sắp xếp để bị cáo không thể lợi dụng micơrô mà phản tuyên truyền hay làm mất trật tự; khi tuyên án không để micơrô cho bị cáo nữa.
3. Chỗ bị cáo ngồi đặt ghế băng dài, không để ghế đẩu.
4. Không để cho phiên dịch đứng, nên bô trí bàn để ghi chép được thì phiên dịch mổi chính xác.
5. Không để gia đình bên bị hại ngồi gần bị cáo hay gia đình bên bị cáo để tránh những việc bất trắc xảy ra khi Tòa án vừa tuyên án xong.
Về phần mình, người viết cuốn sách này có dịp được khảo sát, trực tiếp ghi nhận bằng hình ảnh phòng xử án của Tòa án tối cao bang Chicago (Hoa Kỳ), phòng xử án của Tòa án quận Võ Hầu (tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) và cuộc tranh luận về chỗ ngồi của Luật sư với Công tố viên Trevor Shaw (bang British Columbia, Canada). Có thể nhận thấy, điểm chung của các mô hình tố tụng hình sự khác nhau trên thế giói chính là cách bô' trí phòng xử án, nơi hội tụ của khả năng tiếp cận với công lý thông qua cách bô' trí bình đẳng vị trí chỗ ngồi giữa hai chủ thể nói trên.
Trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật tô' tụng hình sự năm 2003, Đảng Đoàn, Thường trực Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã có nhiều vãn bản gửi đến Ban Cán sự, lãnh đạo Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tô'i cao, Viện kiểm sát nhân dân tôì cao, Ban soạn thảo và cơ quan thẩm định, đề nghị xem xét lại nội dung Dự thảo điều luật quy định về phòng xử án nói trên theo hướng bô' trí chỗ ngồi của Kiểm sát viên và người bào chữa ngang bằng nhau, thể hiện sự bình đẳng giữa đại diện Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội và người bào chữa thực hiện chức năng bào chữa. Đó không chỉ là vấn đề thay đổi vị trí ngồi một cách cơ học, mà phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (khoản 5 Điểu 103) cũng như chủ trương cải cách tư pháp của Đảng ta thể hiện trong Nghị quyết sô' 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 và Nghị quyết sô' 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị khóa IX.
2. Điểm mới trong bố trí phòng xử án trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Trên tinh thần đóng góp của Liên đoàn Luật sư Việt Nam và nhiều ý kiến tiếp thu tại Hội thảo Đề án đổi mới trang phục của Thẩm phán, Hội thẩm và mô hình phòng xét xử do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức, Điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã lựa chọn phương án như sau:
“ 1. Phòng xử án phải được bôztrí thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và Luật sư, người bào chữa khác;
2. Chánh án Tòa án nhân dân tốì cao quy định chi tiết Điều này”.
Với nội dung điều luật này, các nhà lập pháp đã tìm ra được một giải pháp hết sức thực tế và chuẩn mực, theo đó giao việc thiết kế phòng xử án và thiết lập vị trí chỗ ngồi hoàn toàn thuộc thẩm quyền hướng dẫn và quy định của Chánh án Tòa án nhân dân tổì cao, trên nguyên tắc phải bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và người bào chữa.
Căn cứ vào tinh thần nói trên, mới đây Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã chủ động đề xuất vối Lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao xem xét thiết kế phòng xử án với các phương án cụ thể, dựa trên nhận thức:
- Xuất phát từ nguyên tắc phán quyết của Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước và phải căn cứ từ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sỏ xem xét toàn diện, đầy đủ, khách quan và thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa. Do Chủ tọa phiên tòa là người điều khiển phiên tòa, Hội đồng xét xử với vị trí là trung tâm của hoạt động cải cách tư pháp nên Hội đồng xét xử phải là vị trí trọng tâm. Vị trí của Hội đồng xét xử phải bảo đảm có thể quan sát mọi chi tiết, diễn biến phiên tòa, lắng nghe đầy đủ các câu hỏi, trả lời và nội dung trình bày của những người tham gia tố tụng, quan điểm tranh tụng của bên buộc tội và gỡ tội để từ đó xác định sự thật khách quan để đưa ra phán quyết được chính xác, có càn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, cần tạo ra sự uy nghiêm, sự khác biệt và vị thế của Hội đồng xét xử về mặt hình thức, nên vị trí đặt bàn của Hội đồng xét xử phải cao hơn các vị trí bàn của các chủ thể khác, ở chính giữa căn phòng và sau lưng phía trên là hình tượng Quốc huy. Vị trí chỗ ngồi của các thành phần khác tham gia phiên tòa cùng mặt bằng, sàn thấp hơn sàn vị trí Hội đồng xét xử.
- Với chức năng trợ giúp theo yêu cầu của hoạt động xét xử, ghi chép trung thực mọi chi tiết trong diễn biến phiên tòa, đặc biệt là ghi đầy đủ, trung thực các câu hỏi và trả lời trong phần xét hỏi, tiếp nhận để thực hiện các yêu cầu cụ thể của Hội đồng xét xử, vị trí ngồi của Thư ký nên kê chính giữa phía trước bàn của Hội đồng xét xử, mặt hưống về hướng của bị cáo và các thành phần tham gia tô' tụng khác.
- Theo yêu cầu của cải cách tư pháp và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, vị trí ngồi của Kiểm sát viên và người bào chữa cần thể hiện sự bình đẳng, bàn ngồi đối diện nhau theo hướng: Khu vực phía trước, bên phải Hội đồng xét xử là chỗ ngồi của Kiểm sát viên thực hành quyền công tô'; khu vực phía trưốc, bên trái Hội đồng xét xử là chỗ ngồi của người bào chữa (cần đủ diện tích để chủ động đáp ứng chỗ ngồi theo số lượng Luật sư tham gia trong từng phiên tòa cụ thể).
- Về chỗ ngồi của Giám định viên, Ngưòi phiên dịch dự kiến được bố trí ở bục liền kề gần chỗ ngồi của Kiểm sát viên.
- Vị trí khai báo của bị cáo, cần thay vành móng ngựa bằng một chiếc bàn dài ở chính giữa, mặt đối diện với bàn của Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án để bị cáo khi trình bày có thể được sử dụng tài liệu, chứng cứ chứng minh lời khai của mình. Trong trường hợp một số vụ án các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, cần bố trí lực lượng Cảnh sát tư pháp hỗ trợ ngay phía sau vị trí khai báo của bị cáo.
- Về bàn khai báo của những người tham gia tố tụng khác, vị trí đặt ở ngay liền kề với bàn của người bào chữa.
- Để bảo đảm trật tự phiên tòa cũng như bảo vệ an toàn trong quá trình xét xử, đồng thời là hàng rào ngăn cách bị cáo với những người tham gia tố tụng khác, người tham gia phiên tòa, để hạn chế, loại trừ xung đột tại phiên tòa có thể xảy ra, Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp ngồi xen kẽ giữa các bị cáo và những dãy ghế phía sau bàn khai báo của bị cáo.
- Dưới cùng là dãy ghế dành cho những người tham dự phiên tòa hoặc thân nhân của bị cáo, các chủ thể tham gia tố tụng khác.
Người viết hy vọng cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên thực tiễn đã được một số’ Tòa án nhân dân địa phương triển khai và tổng hợp ý kiến đóng góp của các ngành chức năng có liên quan, để vận dụng xem xét thiết kế phòng xử án như mong muốh của mục tiêu và mô hình tố tụng hình sự Việt Nam, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, vị trí chỗ ngồi bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội.
3. Giải quyết các yêu cầu của người bào chữa trước khi mở phiên tòa sơ thẩm
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 dành hẳn một chương riêng (Chương XVI) về “chuẩn bị xét xử”. Theo khoản 1 Điều 176 Bộ luật tô'tụng hình sự năm 2003, sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa. Trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bôn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây: (a) Đưa vụ án ra xét xử; (b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; (c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án... Đôì với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn mười lăm ngày sau khi nhận lại hồ sơ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Điều 177 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng quy định, sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trừ việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án quyết định.
Có thể thấy, nội dung các điều luật nêu trên chưa phản ánh đầy đủ khôi lượng công việc thực tế khá lổn mà Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thường phải tiến hành. Bên cạnh việc nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem xét ra một trong các quyết định đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc đình chỉ vụ án, Thẩm phán còn tiếp nhận rất nhiều yêu cầu, đề nghị xem xét từ bị cáo, người đại diện hợp pháp, người thân thích, những người tham gia tố tụng khác và đặc biệt là người bào chữa. Việc xem xét, giải quyết các yêu cầu nói trên thường không được quy định thành một trình tự rõ ràng, thiếu cơ chế giám sát, thẩm định công khai, dẫn đến nhiều trường hợp khi mở phiên tòa chính thức, nhiều vấn đề được đặt ra tranh cãi, yêu cầu, buộc phải hoãn phiên tòa...
Trong mô hình tố tụng hình sự của nhiều nước, có một trình tự mở phiên họp để xem xét các yêu cầu của bên buộc tội và bên gỡ tội trước khi tiến hành xét xử. Khoản 2 Điều 229 Bộ luật tô' tụng hình sự Liên bang Nga quy định khá chi tiết về các lý do khởi động cho việc nghe các yêu cầu của các bên trưốc phiên tòa. Điều 17-1 “Quy tắc tố tụng hình sự Hoa Kỳ” quy định sau khi giao nộp cho Bồi thẩm đoàn hoặc Công tố viên quyết định khởi tô', Tòa án căn cứ đơn xin của đương sự hoặc tự mình quyết định triệu tập một hoặc.nhiều phiên họp để xem xét những vấn đề bảo đảm cho việc xét xử được khách quan và hiệu quả. Dĩ nhiên, theo mô hình tô' tụng tranh tụng, vai trò của các Thẩm phán Hoa Kỳ thường rất chủ động và tự do định lượng, tạo điều kiện cho các bên thương lượng, thỏa thuận và đương sự cũng có quyền xin triệu tập phiên họp. Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định về vấn đề bảo toàn chứng cứ, trong đó thòi hạn xin bảo toàn chứng cứ lấy ngày mở phiên tòa công khai lần thứ nhất làm giới hạn. Trong khi Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, Điều 467 Bộ luật tố tụng hình sự Italia lại đưa ra yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ chứng cứ của các bên và đương sự phải được đề xuất trước khi phiên tòa được mỗ công khai.
Trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tại đề xuất của mình, Liên đoàn Luật sư Việt Nam cũng đã nêu rõ sau khi vụ án được thụ lý, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cần phải xem xét yêu cầu của bị can, bị cáo và người bào chữa. Trước khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán có thể mỏ phiên họp giải quyết khi có một trong các trường hợp như bị cáo, người bào chữa hoặc những người tham gia tố tụng khác có yêu cầu xin đổi biện pháp ngăn chặn; bị cáo, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người giám định, người bào chữa xin vắng mặt tại phiên tòa; đề nghị cung cấp, bô sung hoặc loại bỏ chứng cứ; cho ý kiến về sự cần thiết áp dụng trình tự xét xử rút gọn đối với vụ án, xét xử công khai hoặc xét xử kín; bị cáo, ngưòi bào chữa, những ngưòi liên quan khác có yêu cầu về việc hoãn hoặc kéo dài thời gian mở phiên tòa; hoặc các trường hợp khác Tòa án thấy cần thiết phải mồ phiên họp giải quyết, nhưng phải thông báo cho bị cáo và người bào chữa.
Lần đầu tiên, một trình tự mới giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa đã được quy định tại Điều 279 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trong đó, có tiếp thu nhiều đề xuất của Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Theo đó, trưốc khi mở phiên tòa chính thức, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết các yêu cầu, đề nghị của người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; đề nghị của bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc xét xử theo thủ tục rút gọn, xét xử công khai hoặc xét xử kín; đề nghị của người tham gia tố tụng về việc vắng mặt tại phiên tòa. Nếu xét thấy yêu cầu, đề nghị có căn cứ thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết theo thẩm quyền hoặc thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật này và thông báo cho người đã yêu cầu, đề nghị biết; nếu không chấp nhận thì thông báo cho họ bằng văn bản nêu rõ lý do.
Nội dung điều luật này xuất phát từ chức năng của Thẩm phán là người có kiến thức pháp luật, kỹ năng và phẩm chất của một vị quan tòa khách quan, nên có thể giải quyết được những vấn đề vướng mắc về mặt pháp lý phát sinh của các bên tranh tụng ngay từ trước khi phiên tòa công khai được mỏ. Những vấn đề này, suy cho cùng lại là những vấn đề gắn liền vối quyền lợi của bị cáo và bảo đảm quyền hành nghề của người bào chữa, có khả năng phát sinh tại phiên tòa. Trình tự này cũng giúp cho các bên buộc tội và gỡ tội sàng lọc trước một bước các chứng cứ dự kiến sẽ được thẩm tra, đánh giá và tranh luận tại phiên tòa, là thực tế chứng minh cho nguyên tắc tranh tụng được bảo đảm ngay từ trước khi phiên tòa xét xử công khai được mỏ.
Ngoài ra, một điểm rất mới, thể chê hóa quyền xác minh, thu thập và bổ sung chứng cứ của Tòa án theo Điều 252 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trong đó có việc: (1) Tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; (2) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; (3) Xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa; (4) Xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án; (5) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản ngoài các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, cần định giá tài sản quy định tại Điều 206 và Điều 215 của Bộ luật này; trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại; yêu cầu định giá lại tài sản; (6) Trường hợp Tòa án đã yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ nhưng Viện kiểm sát không bổ sung được thì Tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.
Để thực hiện quyền hạn mới này, theo Điều 253 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khi cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải tiếp nhận và có thể hỏi người đã cung cấp về những vấn đề có liên quan đến chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó. Việc tiếp nhận được lập biên bản. Ngay sau khi nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thì Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật, Viện kiểm sát phải xem xét và chuyển lại cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án. Người bào chữa phải nắm vững các quyền hạn mới này của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa để cung cấp, đưa ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật phù hợp, phục vụ cho quá trình trợ giúp pháp lý cho khách hàng và chuẩn bị cho việc tranh tụng tại phiên tòa công khai.
4. Ý nghĩa của việc bố trí phòng xử án
Cách thức bố trí phòng xét xử tuy chỉ là hình thức nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thể hiện tính dân chủ, sự bình đẳng giữa các bên, góp phần nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa; đồng thời, cũng thể hiện được vị trí trung tâm của Hội đồng xét xử - nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Việc đổi mới vị trí ngồi của Kiểm sát viên và Luật sư chính là sự thể hiện của tinh thần thay đổi từ mô hình tố tụng xét hỏi sang mô hình tranh tụng. Đây cũng chính là việc thực hiện chủ trương cải cách tư pháp là kết hợp mô hình tố tụng xét hỏi và mô hình tố tụng tranh tụng mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị đã đề ra: "Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp"
Chủ trương này cũng được thể hiện trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015, cụ thể Điều 257 Bộ Luật Tố tụng Hình sự quy định về phòng xử án như sau: “1.Phòng xử án phải được bố trí thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và Luật sư, người bào chữa khác. 2. Chánh án TANDTC quy định chi tiết Điều này”.
Mặc dù đã có những thay đổi tích cực về mặt hình thức trong hoạt động tư pháp nhưng cần phải nhìn nhận một cách khách quan rằng địa vị pháp lý của người bào chữa có được nâng cao hay không,hoạt động xét xử có được công khai, bình đẳng hay không, có giảm bớt được oan sai hay không... còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Vì vậy, ngoài việc thay đổi về hình thức, mô hình xét xử, cần triển khai thực hiện các quy định khác của Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 như các quyền của bị can, bị cáo, quyền của người bào chữa... trong việc thu thập,cung cấp chứng cứ, quyền tranh tụng bình đẳng, nguyên tắc suy đoán vô tội...Có triển khai đầy đủ, đồng bộ tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hữu quan thì mới thay đổi được mô hình tố tụng và hiệu quả trong tố tụng. Còn nếu chỉ thực hiện triển khai những quy định về hình thức mà không làm tốt các quy định về mặt nội dung, không đảm bảo được quyền bào chữa, quyền con người, không bình đẳng trong địa vị tham gia tố tụng của các chủ thể... thì việc thay đổi vị trí ngồi trong phiên tòa cũng không có ý nghĩa gì.
5. Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Thực tiễn tố tụng hình sự những năm qua cho thấy một vấn đề bức xúc là tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung rất phổ biến, kéo dài thời hạn tố tụng, xâm phạm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Trong một số trường hợp, việc trả hồ sơ không bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội, thậm chí kết tội danh nặng hơn đôì vối bị can, đồng thời không hề thông báo cho người bào chữa được biết.
Nhằm khắc phục những vưống mắc nêu trên, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp: (a) Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đê' quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; (b) Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm; (c) Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tô” vụ án, khởi tố bị can; (d) Việc khởi tô, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
Tuy nhiên, trong quá trình hướng dẫn thi hành, các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần xem xét các trường hợp và điều kiện trả hồ sơ để điều tra bổ sung vối nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”. Đây là điểm mấu chốt nhằm xác định trách nhiệm của Thẩm phán chủ tọa không thể lạm dụng quyền hạn của mình để cố gắng “phụ trợ” cho quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần.
Nhìn ỏ góc độ bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, đương sự, việc nhận diện và đấu tranh để xác định các chứng cứ quan trọng đối với vụ án (bao gồm cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội) có ý nghĩa rất lổn, vì nếu thiếu các chứng cứ này thì không thể giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. Đó là các chứng cứ chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra hay không; thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; hành vi bị coi là phạm tội có lỗi hay không có lỗi; các tình tiết chứng minh năng lực trách nhiệm hình sự, mục đích, động cơ phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo là chứng cứ xác định lý lịch tư pháp của bị can, bị cáo cũng như tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Đương nhiên, người bào chữa cũng có quyển có ý kiến đề nghị Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy có thể xét xử bị can (bị cáo) về một hay nhiều tội tương ứng bằng hay nhẹ hơn hoặc có thể xét xử bị can (bị cáo) ít tội hơn số tội mà Viện kiểm sát truy tố; hoặc đã có căn cứ quyết định tách vụ án hoặc chưa có quyết định tách vụ án của Cơ quan điều tra...
Điều quan trọng mà người bào chữa thường quan tâm chính là xem xét các hành vi tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tô' tụng có phù hợp với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hay không? Điểm d khoản 1 Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Thẩm phán có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có căn cứ xác định việc khởi tô', điều tra, truy tô' vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tô' tụng, về vấn đề này, Điều 4 Thông tư liên tịch sô' 01/2010/TTLT/VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27-8-2010 đã định nghĩa: “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tô' tụng” là trong quá trình điều tra, truy tô', xét xử, cơ quan tiến hành tô' tụng, người tiến hành tô' tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật tô' tụng hình sự quy định đã xâm hại nghiêm trọng đến quyển, lợi ích hợp pháp của người tham gia tô' tụng hoặc làm ảnh hưỏng đến việc xác đỉnh sự thật khách quan và toàn diện của vụ án.
Vì thế, trong quá trình hưống dẫn thi hành Bộ luật tô' tụng hình sự năm 2015 lần này, các cơ quan chức năng có thẩm quyền bên cạnh việc xác định đầy đủ và đúng đắn các hành vi bị coi là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tô' tụng, rất nên lưu tâm đến những hành vi và quyết định xâm phạm đến quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người bào chữa, cũng như cản trở, xâm phạm đến các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa. Trong đó, phải kể đến hành vi không yêu cầu cử người bào chữa cho bị can, bị cáo trong trường hợp bắt buộc phải chỉ định người bào chữa; cản trỏ, đưa ra những yêu cầu vô lý để từ chôì đăng ký bào chữa; không tạo điều kiện cho thân nhân và người bào chữa được gặp mặt người bị buộc tội khi họ từ chối người bào chữa. Đó còn là các hành vi không giao các lệnh, quyết định tô' tụng cho bị can, bị cáo theo đúng quy định của pháp luật xâm phạm đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo; xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Bên cạnh đó, cũng phải đưa vào diện vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng khi có căn cứ để xác định có việc mớm cung, bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự làm cho lòi khai của bị can không đúng sự thật; các khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khậc không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của họ.
Để không trả hồ sơ điểu tra bổ sung nhiều lần, Viện kiểm sát, Tòa án phải nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án để phát hiện các trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung và phải kịp thòi ra quyết định, không được để hết thời hạn quyết định truy tố hoặc hết thời hạn chuẩn bị xét xử mới ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc hợp thức hóa nhằm kéo dài thòi hạn điều tra để cố gắng tìm chứng cứ buộc tội đối vối người bị tình nghi phạm tội. Như trên đã nêu, theo tinh thần của Điều 252 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Thẩm phán có thể thực hiện quyền năng của mình trong việc xác minh, thu thập hoặc bổ sung chứng cứ để bảo đảm việc giải quyết vụ án được toàn diện, khách quan và đúng pháp luật.
Để thực hiện đúng đắn Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, người viết đề xuất nên xem xét lại cơ chế họp liên ngành để thống nhất quan điểm và đường lối xử lý như được quy định tại Điều 8 Thông tư liên tịch số’ 01/2010/TTLT/VKSNDTC- BCA-TANDTC nói trên. Cụ thể, nên hủy bỏ quy định trong thời hạn chuẩn bị xét xử, sau khi nghiên cứu hồ sơ thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng, có vi phạm thủ tục tố tụng, bị can phạm vào tội khác hoặc có đồng phạm khác, thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa trao đổi với Kiểm sát viên để có biện pháp khắc phục kịp thời hoặc có thể bổ sung được tại phiên tòa mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Không nên duy trì cơ chế nếu Kiểm sát viên và Thẩm phán chưa thống nhất ý kiến, thì báo cáo lãnh đạo liên ngành xem xét cho ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Theo nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm, đê' nghị không nên tiếp tục duy trì quy định: “Kiểm sát viên chủ động phối hợp với Hội đồng xét xử làm rõ những chứng cứ liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, trong trường hợp phát sinh những vấn đề mới hoặc phức tạp mà không bổ sung được, thì Hội đồng xét xử ra quyết định trả
hồ sơ để điều tra bổ sung”. Theo thẩm quyền tố tụng, chính các cơ quan và người tiến hành tố tụng phải thực hiện đúng chức năng luật định, giám sát việc thực hiện lẫn nhau, chứ không phải tìm kiếm sự đồng thuận đi ngược lại các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Có thể nói, đây chính là căn cứ để bảo đảm thực thi nguyên tắc tranh tụng, Hội đồng xét xử ban hành phán quyết đốĩ với bị cáo dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa.