1. Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - Khi không có tiền trả góp ?

Thưa luật sư! Thàng 1 năm 2017 em có vay bên ngân hàng Việt Nam thịnh vượng số tiền là 11.000.000 thời hạn góp là 24 tháng và số tiền mỗi tháng em phải góp là 719.000. Đến nay em góp được 2 tháng nhưng 2 tháng gần đây em không có khả năng góp vì đang nuôi 2 con nhỏ và đang thất nghiệp.ben ngân hàng nói nếu em không đóng đúng hạn thì sẽ tố cao em về tội lợi dụng chiếm đoạt tài sản..vay xin luật sư tư vấn giúp em em chỉ muốn quảng lại 3 tháng để em có việc làm và sẽ đóng đủ cho ngân hàng a..em cần phải làm sao và em có bị ngồi tu không ạ?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 463, Bộ luật Dân sự 2015 về Hợp đồng vay tài sản:

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Hợp đồng giữa bạn và ngân hàng được coi là hợp đồng vay tài sản trong quan hệ dân sự. Do vậy, khi bạn vay tiền của ngân hàng, bạn có nghĩa vụ phải trả nợ hàng tháng cho bên cho vay (ngân hàng) đầy đủ khi đến hạn. Tuy nhiên, 2 tháng gần đây do hoàn cảnh khó khăn nên mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng. Khi bạn chậm trả được nợ cho ngân hàng, trách nhiệm dân sự của bạn được Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

“Điều 353. Chậm thực hiện nghĩa vụ

1. Chậm thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết.

2. Bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền về việc không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn.”

“Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.”

Như vậy, khi bạn không có khả năng trả ngay nợ lãi cho ngân hàng thì bạn có thể xin gia hạn thời hạn chậm trả nhưng phải được phía ngân hàng đồng ý. Nếu quá thời hạn gia hạn này mà bạn vẫn không trả được số nợ của mình thì ngoài việc bạn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ bạn còn phải bồi thường thiệt hại cho ngân hàng. Bạn tuyệt đối không nên bỏ trốn để chối bỏ trách nhiệm của mình.

Đồng thời, trong trường hợp bạn hoàn toàn không có khả năng thanh toán hết số nợ ngân hàng thì bạn có thể bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định như sau:

1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.

4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.

5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.

6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.”

Như vậy, nếu hết thời hạn gia hạn nghĩa vụ trả nợ mà bạn vẫn không thể trả nợ, phía ngân hàng hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp, cưỡng chế thi hành án. Khi đó, mọi tài sản thuộc quyền sở hữu của bạn sẽ có thể bị đem ra xử lý để thanh toán nợ.

Nếu phía ngân hàng kiện bạn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì theo quy định tại điều 140 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009, đối với việc chiếm đoạt tài sản là 11 triệu đồng bạn có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Để không bị kết án hoặc giảm án, bạn cần thương lượng với ngân hàng hoặc chứng minh với cơ quan chức năng rằng bạn không hề có hành vi gian dối hay ý định bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản. Bạn cũng nên trình bày kế hoạch tìm kiếm việc làm và phương án thanh toán nợ càng chi tiết với phía ngân hàng càng tốt.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

2. Lạm dụng quyền hạn chiếm đoạt đất đai bị xử lý theo điều nào ?

Xin hỏi luật sư: Phó chủ tịch xã tôi đã lợi dụng quyền hạn để san lấp ao của làng gần nhà phó chủ tịch xã phụ trách kinh tế. có phải đã biến của công thành cửa riêng và nhân dân đã làm đơn khứu nại rất nhiều lần nhưng chưa được giải quyết. Vậy tôi muốn hỏi là đ/c phó chủ tịch xã đã vi phạm khoản nào, điều bao nhiêu của BLHS. rất mong luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!

Trả lời:

Trong trường hợp này cần xác định xem việc san lấp ao làng của phó chủ tịch xã có quyết định của cấp trên hay không,? Trong trường hợp việc san lấp này do cơ quan nhà nước có quyết định thực hiện bằng văn bản thì nó đã được thông báo với người dân hay chưa, người dân được lấy ý kiến không? Việc san lấp ao có đúng với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã không?,...

Nếu không có quyết định san lấp ao của cơ quan có thẩm quyền mà phó chủ tịch xã tự ý tiến hành san lấp để trục lợi riêng thì theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tại Điều 358 được xác định như sau:

Điều 358. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đòi, nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây dưới mọi hình thức để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm, thì bị phạt tù từ 01 đến 06 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất.

Như vậy, nếu phó chủ tịch xã chỉ vi phạm quy định về thủ tục đất đai, bạn và những người dân khác có thể làm đơn khiếu nại gửi lên chủ tịch ủy ban nhân dân xã, trong trường hợp không được giải quyết hoặc giải quyết không thảo đáng thì bạn có thể tiếp tục gửi đơn lên chủ tịch UBND cấp huyện.

Nếu phó chủ tịch xã vi phạm cả về thủ tục đất đai và hình sự thì ngoại đơn khiếu nại, bạn còn có thể gửi đơn tố cáo đến cơ quan công an cấp xã để giải quyết nhanh chóng.

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

3. Tư vấn về căn cứ để định khung hình phạt về tội lạm dụng chức vụ ?

Bạn tôi đang công tác tại phòng LĐTBXH cấp huyện và được giao nhiệm vụ lập danh sách đề nghị cấp thẻ BHYT người nghèo, người dân tộc thiểu số, người dân sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn. Từ năm 2014 đến năm 2016, bạn tôi có làm giúp cho 300 người không thuộc diện được cấp thẻ và có nhận bồi dưỡng 45 triệu đồng của những người trong diện được cấp. Tháng 12/2016, bạn tôi bị cơ quan cảnh sát điều tra huyện khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân có đúng không? Xin trân trọng cảm ơn

Trả lời:

Trong trường hợp này, bạn anh là người được giao nhiệm vụ lập danh sách đề nghị cấp thẻ BHYT cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, như vậy hành vi của bạn anh phải là lợi dụng chức vụ, quyền hạn chứ không phải là lạm dụng chức vụ, quyền hạn. Việc đưa 300 người trên vào danh sách không phải là hành vi vượt ra ngoài chức năng, nhiệm vụ.

Điều 355. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

.......

Như vậy theo như thông tin bạn cung cấp thì theo quy định của pháp luật, bạn anh đáng lẽ phải bị xử lý về tội nhận hối lộ theo điểm a khoản 1 điều 354 Bộ luật Hình sự :

Điều 354. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất.

>> Xem thêm:  Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả nên báo công an không ?

4. Tố cáo hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Tôi có 1 vài thắc mác muốn anh, chị tư vấn chồng tôi có đúng tên mua hộ bà nguyễn thi A 01 chiếc xe máy trả góp từ năm 2015, chiếc xe trị giá 16 triệu đồng Bà A đã trả đc 6 tháng tiền trả góp rồi bà A không trả nữa. Bà A bỏ về quê sinh sống và mang chiếc xe đi cùng , bên ngân hàng cho vay trả góp chiếc xe máy khởi kiện chồng tôi. Vì hàng vi vi phạm hợp đồng mua xe trả góp .Tôi muốn viết đơn tố cáo bà A về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được không ? Mong anh chị trả lời giúp tôi. Xin cảm ơn.

Trả lời:

Trước tiên, cần xác định giữa bà A và chồng chị có hợp đồng thỏa thuận về việc chồng bạn đứng tên mua xe trả góp sau đó bà A sẽ hoàn trả cho chồng chị hay không. Nếu có hợp đồng thỏa thuận trên thì chồng chị có thể làm đơn tố cáo hoặc khởi kiện bà A về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Nếu không có hợp đồng thì trước tiên do chính chồng chị là người đứng tên mua xe nên sẽ phải có trách nhiệm để trả tiền mua xe cho phía ngân hàng. Sau đó, chồng chị có thể tố cáo bà A với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì theo hợp đồng xe sẽ thuộc sở hữu của chồng chị chứ không phải bà A, nên khi đó bà A sẽ phải trả lại xe cho chồng chị.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

5. Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư! Bà Mai có lấy của gia đình tôi nhiều lần mỗi lần khoản vài chục triệu để giao hụi cho nhiều người khác với tổng số tiền đến thời điểm này là 1ti 8tram triệu sẽ được trả lại hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng nhưng bà ấy không trả và bảo rằng số tiền trên là do bà ta lấy không giao ai khác. Xin hỏi hành động này có thể khơi kiện bà ấy tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không, có thể cho bà ấy ngồi tù không và khi kiện có cơ hội thắng không? Công ty mình có nhận vụ kiện này được không, xin luật sư trả lời giúp ạ. Xin cảm ơn rất nhiều.

Trả lời:

Theo như quy định của BLHS thì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bắt buộc phải có 1 trong các hành vi sau:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì bạn không thể khởi kiện bà Mai về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được do bà Mai không hề vay, mượn hay nhận tiền của gia đình bạn dưới hình thức hợp đồng.

Tuy nhiên bạn có thể kiện bà Mai về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định taị điều 139 BLHS. Trong đó, bạn cần chứng minh được rằng gia đình bạn đã giao tiền cho bà Mai để lấy lãi nhưng bà Mai đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Nếu đủ điều kiện thụ lý thì với số tiền gần 2 tỷ như bạn đã thông tin thì bà Mai có thể bị phạt tù từ 20 năm hoặc chung thân.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực hình sự vui lòng trao đổi trực tiếp với đội ngũ luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162để nhận được sự tư vấn trực tuyến.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không?