1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 định nghĩa về văn bản quy phạm pháp luật như sau:

Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện của các quyết định pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự và dưới hình thức nhất định, có chứa đựng các quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định, đước áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đời sống và việc thực hiện văn bản đó không làm chấm dứt hiệu lực của nó. Văn bản quy phạm pháp luật là loại nguồn trực tiếp của pháp luật.

 

2. Các dấu hiệu đặc trưng của văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật phải đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng sau:

- Là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành.

-  Là văn bản có chứa đựng các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc.

- Là văn bản được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội đối với những trường hợp khi có những sự kiện pháp lý xảy ra. Sự thực hiện văn bản không làm chấm dứt hiệu lực của nó.

- Tên gọi, nội dung, trình tự ban hành được quy định cụ thể trong luật.

 

3. Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản khác

Văn bản nói chung là hình thức, công cụ hữu hiệu để ghi lại, truyền đạt và xử lý các thông tin, đặc biệt là để truyền đạt các quyết định quản lý. Văn bản cũng là phương tiện quan trọng của hoạt động quản lý và lãnh đạo. Đối với các cơ quan nhà nước, văn bản là hình thức chủ yếu nhiệm vụ cụ thể hoá luật pháp; đối với các cơ quan Đảng, tổ chức xã hội, văn bản có vai trò như công cụ tổ chức, vận động quần chúng thực hiện chủ trương, chính sách và mục tiêu chung của tổ chức đó.

Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định quản lý thành văn do các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quản lý hành chính có thẩm quyền ban hành, mang tính quyền lực nhà nước và làm phát sinh các hệ quả pháp lý cụ thể. Văn bản quản lý nhà nước không chỉ phản ánh các thông tin quản lý mà còn thể hiện ý chí, mệnh lệnh của các cơ quan nhà nước, là những căn cứ pháp lý để các khách thể thực hiện quyết định của các chủ thể quản lý nhà nước.

Các văn bản quản lý nhà nước nhằm phục vụ cho việc điều hành bộ máy quản lý nhà nước có thể hoạt động đúng hướng, đúng chức năng và có hiệu quả. Việc phân loại văn bản quản lý nhà nước, thông thường được xác định như sau: văn bản quy phạm pháp luật, văn bản cá biệt, văn bản hành chính thông thường, văn bản chuyên môn và văn bản kỹ thuật.

Tiêu chí phân loại các văn bản quản lý nhà nước dựa trên tính chất, đặc điểm của từng loại văn bản, mục đích ban hành văn bản cũng như khái niệm văn bản. (Ví dụ: đối với văn bản quy phạm pháp luật, đặc tính của văn bản cần chú ý là có chứa đựng quy tắc xử sự chung, có tính bắt buộc chung, đối tượng áp dụng không phải là một đối tượng hay nhóm đối tượng cụ thể, được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định).

- Văn bản cá biệt là văn bản áp dụng văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết những vấn đề riêng lẻ, có đối tượng tác động là cá nhân.

- Văn bản hành chính thông thường là những văn bản mang tính thông tin điều hành nhằm triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hoặc dùng để giải quyết các tác nghiệp cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc... của các cơ quan hành chính nhà nước.

- Văn bản chuyên môn: là các loại giấy tờ mang tính đặc thù của nghiệp vụ chuyên môn thuộc các lĩnh vực nhất định, ví dụ: lĩnh vực kế hoạch, thống kê, tài chính, ngân hàng, y tế,...

- Văn bản kỹ thuật: Là các loại giấy tờ được sử dụng trong các ngành, lĩnh vực có tính kỹ thuật như kiến trúc, xây dựng, công nghệ... Ví dụ: bản vẽ thiết kế, luận chứng kinh tế - kỹ thuật...

Việc phân loại văn bản giúp các cơ quan xây dựng, sử dụng, ban hành văn bản đúng hình thức, mục đích, đối tượng, đúng thẩm quyền và đúng thể thức, qua đó, bảo đảm tính pháp lý của văn bản. Ngoài ra, phân loại chính xác văn bản có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động quản lý, điều hành nhằm giải quyết từng vấn đề cụ thể. Văn bản quản lý nhà nước là phương tiện để xác định và vận dụng các chuẩn mực pháp lý vào quá trình quản lý nhà nước. Việc phân loại đúng đắn các văn bản quản lý nhà nước sẽ phản ánh đúng đặc điểm của quá trình quản lý nhà nước và tạo ra các mối quan hệ pháp lý hài hoà trong hoạt động của các cơ quan, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động quản lý cũng như tính hợp pháp của các quyết định.

Từ những phân tích trên, có thể liệt kê một số văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật mà trên thực tế chúng ta có thể khó khăn khi nhận dạng:

- Các văn bản do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành, nhưng không có đầy đủ các yếu tố của văn bản quy phạm pháp luật như: nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và nghị quyết về điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; nghị quyết của Chính phủ về chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định; nghị quyết về điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ; nghị định của Chính phủ phê chuẩn đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; nghị quyết của Quốc hội về miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê duyệt kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và các chức vụ khác; quyết định phê duyệt đề án khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính của cơ quan, đơn vị; quyết định về thành lập cơ quan, đơn vị; quyết định giao chỉ tiêu kinh tế - xã hội cho cơ quan, đơn vị; quyết định thành lập các Ban Chỉ đạo, Hội đồng, ủy ban lâm thời để thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian xác định; lệnh công bố luật, pháp lệnh của Chủ tịch nước; quyết định phê duyệt điều lệ của hội, tổ chức phi Chính phủ; quyết định lên lương, khen thưởng, kỷ luật, điều động công tác; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức, tạm đình chỉ công tác cán bộ, công chức; quyết định phê chuẩn kết quả bầu cử các thành viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; quyết định xử lý vi phạm hành chính; văn bản quy phạm nội bộ của cơ quan, đơn vị; văn bản cá biệt để phát động phong trào thi đua, biểu dương người tốt, việc tốt; văn bản cá biệt có tính chất chỉ đạo, điều hành hành chính hoặc để hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ và các văn bản cá biệt khác để giải quyết vụ việc cụ thể đối với đối tượng cụ thể thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.

- Các văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành, nhưng không có đầy đủ các yếu tố của văn bản quy phạm pháp luật như: nghị quyết về miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và các chức vụ khác; nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và bầu các chức vụ khác; nghị quyết về việc giải tán Hội đồng nhân dân; nghị quyết về việc phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; nghị quyết về việc thành lập, sáp nhập, giải thể một số cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; nghị quyết hoặc quyết định thành lập các ban, ban chỉ đạo, hội đồng, ủy ban lâm thời để thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian xác định; nghị quyết về chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân; nghị quyết hủy bỏ, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; nghị quyết về tổng biên chế ở địa phương; quyết định về chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân; quyết định phê duyệt kế hoạch, quy hoạch phát triển đối với một ngành, một đơn vị hành chính địa phương; quyết định giao chỉ tiêu cho từng cơ quan, đơn vị; quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của đơn vị hành chính địa phương, quy hoạch ngành; quyết định về chỉ tiêu biên chế cơ quan, đơn vị; quyết định về khoán biên chế, kinh phí quản lý hành chính cho từng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và những văn bản tương tự khác để giải quyết những vụ việc cụ thể đối với những đối tượng cụ thể.

 - Các văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, như: quyết định thành lập đơn vị trực thuộc cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân; quyết định ban hành quy chế hoạt động của các hội đồng, ban, ban chỉ đạo, ủy ban lâm thời; quyết định ban hành quy chế nội bộ của cơ quan, đơn vị; quyết định lên lương, khen thưởng, kỷ luật, điều động công tác; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức, tạm đình chỉ công tác cán bộ, công chức; quyết định xử lý vi phạm hành chính; các văn bản có tính chất chỉ đạo, điều hành hành chính; văn bản hướng dẫn việc tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ; văn bản phát động phong trào thi đua, biểu dương người tốt, việc tốt và những văn bản tương tự khác để giải quyết những vụ việc cụ thể đối với những đối tượng cụ thể thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.

- Các văn bản có chứa quy phạm pháp luật như công văn, thông báo, điện báo, hướng dẫn và các giấy tờ hành chính khác.

 

4. Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc: Xác lập quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật khác nhau, những quan hệ xã hội này xác lập, phát triển, tồn tại hay chấm dứt dựa trên quy định của pháp luật, các bên tham gia vào quan hệ đó là những chủ thể có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý phát sinh được pháp luật quy định và Nhà nước sẽ bảo đảm thực hiện.

Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan hệ pháp luật có thể phản ánh tính chất ý chí – ý chí của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật mà nội dung của chúng được xác định bằng các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội tồn tại trong xã hội đó vào thời điểm lịch sử nhất định. Ngoài ra, các quan hệ pháp luật còn mang ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó. Ý chí của các chủ thể phải phù hợp với ý chí của Nhà nước và được thể hiện khác nhau trong từng quan hệ cụ thể, từng giai đoạn của nó (phát sinh, thực hiện hoặc chấm dứt). Có thể chỉ thể hiện khi phát sinh, lúc thực hiện hay chấm dứt một quan hệ cụ thể, song ý chí của các chủ thể tham gia vào các quan hệ này phải phù hợp với ý chí của Nhà nước và được thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật. Là cơ sở hình thành, phát triển, chấm dứt trên cơ sở các quy phạm pháp luật - sản phẩm của hoạt động có ý thức, thể hiện ý chí của nhà làm luật. Là cơ sở để xác lập duy trì, bảo vệ một cách nghiêm minh, là cơ sở để duy trì ổn định xã hội, bảo đảm sự gắn bó chặt chẽ giữa công dân với nhà nước, giữa công dân với công dân, là điều kiện vật chất đảm bảo sự phát triển không ngừng về mọi mặt của quốc gia. Qua đây thể thấy ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xác lập quan hệ pháp luật là vô cùng quan trọng.

Ví dụ: Vào ngày 20/11/2020, chị A có mua của anh B một thửa đất 50m2. Giữa A và B có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được công chứng theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Đây là một quan hệ pháp luật, vì:

Chị A và anh B đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Khi xác lập giao dịch này, hai bên đã căn cứ vào:

Thứ nhất: Căn cứ theo khoản 1 và khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định về điều kiện cho phép thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Thứ hai: khoản 1 Điều 40 và Điều 41 Luật Công chứng 2014 quy định về hồ sơ công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Thứ ba: Khoản 1 Điều 2 Thông tư 09/2021/TT-BTNMT quy định hồ sơ đăng ký biến động khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Như vậy, có thể thấy thông qua những văn bản quy phạm pháp luật trên mà quan hệ pháp luật giữa chị A và anh B đã diễn ra theo đúng những trình tự thủ tục Nhà nước quy định.

 

5. Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc: Thực hiện pháp luật

Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, làm cho những quy định pháp luật đi vào cuộc sống của người dân, và trở thành các hành vi hợp pháp của công dân. Nói một cách đơn giản thì thực hiện pháp luật là việc công dân tuân thủ các quy định pháp luật.

 Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc: Thực hiện pháp luật: Nhờ đó, ý chí, mục đích của nhà nước thể hiện trong các quy phạm pháp luật trở thành hiện thực trong thực tế, các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật của nhà nước mới đi vào cuộc sống, phát huy được vai trò, tác dụng và hiệu quả của chúng; làm cho đời sống xã hội ổn định, trật tự và có điều kiện phát triển bền vững, các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức được bảo đảm, bảo vệ, đời sống xã hội được an toàn. Có thể điều tiết những vấn đề thực tiễn. Xã hội ngày càng phát triển đa dạng, đa chiều với những mối quan hệ phức tạp, nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đang đặt ra cho Nhà nước những vấn đề thực tiễn cần phải giải quyết trong quá trình quản lý, điều hành, bằng các văn bản quy phạm pháp luật làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống và điều tiết hành vi của mỗi cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện pháp luật.

Ví dụ: Anh B có bạn thân là anh C. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19. B và C được công ty cho nghỉ không lương. Do không có tiền, gần tết nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 C rủ B đi buôn pháo để kiếm tiền tiêu tết. Tuy nhiên, B không đồng ý vì pháo nổ nằm trong danh mục hàng cấm theo quy định tại phụ lục I Ban hành kèm theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện.

Như vậy, thay vì thực hiện hành vi mua bán pháo nổ, nhờ có văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 59/2006/NĐ-CP) B đã không thực hiện hành vi nêu trên. Qua đó, cho thấy B đã tuân thủ quy định của pháp luật. Từ đó, góp phần củng cố an ninh, trật tự, kinh tế, xã hội.

 

6. Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc: Truy cứu trách nhiệm pháp lý

Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thấm quyền tiến hành nhằm cá biệt hoá bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật.

Truy cứu trách nhiệm pháp lý nhằm bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền, lợi ích họp pháp của các cá nhân, tổ chức trong xã hội, đảm bảo cho các quan hệ xã hội diễn ra trong ổn định, trật tự và phát triển một cách bình thường. Đồng thời, truy cứu trách nhiệm pháp lý nhằm xử lý người vi phạm pháp luật, trừng phạt họ, qua đó nhằm cải tạo, giáo dục họ, ngăn chặn sự tiếp tục vi phạm pháp luật của họ. Bên cạnh đó, truy cứu trách nhiệm pháp lý còn nhằm răn đe, phòng ngừa chung, làm cho các chủ thể khác nhận thức được tính nghiêm minh của luật pháp mà không dám vi phạm pháp luật. Một số trường hợp, truy cứu trách nhiệm pháp lý còn nhằm khôi phục trạng thái ban đầu của các quan hệ xã hội trước khi bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại.

Bằng văn bản quy phạm pháp luật làm thay đổi các hành vi xử sự không mong muốn và thiết lập các hành vi xử sự phù hợp dù đó là người dân cũng như cơ quan thực thi pháp luật. Muốn tạo điều kiện cho phát triển, chúng ta cần phải sử dụng pháp luật để làm thay đổi hành vi xử sự của phần lớn nhân dân, đặc biệt là của các cán bộ nhà nước. Các cán bộ nhà nước là những người đầu tiên có trách nhiệm bảo đảm một xã hội công bằng, văn minh, dân chủ và thay mặt cho những người mà họ đại diện, đó là nhân dân. Các cán bộ địa phương một mặt thực hiện các nhiệm vụ mà pháp luật quy định nhưng mặt khác, đây cũng là sự phó thác của nhân dân đối với đại diện trực tiếp (Hội đồng nhân dân) hay gián tiếp (Uỷ ban nhân dân) của mình trong bộ máy chính quyền. Nếu như những người đại diện cho dân chúng không bảo đảm cho những người mà họ đại diện có cuộc sống ấm no, an bình nghĩa là họ thực hiện trách nhiệm chưa đầy đủ. Để tránh việc văn bản pháp luật trao cho các cán bộ thực thi pháp luật quyền tự định đoạt quá lớn, bên cạnh các cơ quan dân cử, vẫn cần phải có sự tham gia trực tiếp của người dân vào quá trình ra quyết định của các cơ quan nhà nước. Để tránh sự lộng quyền của cán bộ thực thi pháp luật, chỉ có sự quy định chặt chẽ của văn bản pháp luật mới bảo đảm trách nhiệm của những cơ quan thực thi pháp luật, cán bộ thực thi pháp luật, từ đó bảo đảm lợi ích của người dân. ''Thiếu sự quản lý bằng pháp luật, cơ chế trách nhiệm, tính minh bạch và sự tham gia của người dân, các quyết định sẽ trở nên tùy tiện, cán bộ chính quyền sẽ sử dụng quyền lực nhà nước không phải vì lợi ích của đa số nhân dân mà là cho riêng họ".

Ví dụ: Trước đây, việc quy định chưa đầy đủ về mức lãi suất đối với hành vi cho vay nặng lãi quy định tại Điều 201 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên tại nhiều địa phương gặp phải sự lúng túng trong việc xác định tôị phạm cho vay nặng lãi. Sau khi có Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành, các vụ án hình sự liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng đã được giải quyết nhanh chóng, xử lý đúng người, đúng tội.

Như vậy, các văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội, giúp đảm bảo quyền hành pháp và tư pháp của Nhà nước, đảm bảo cho sự công bằng xã hội.

 

7. Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc: Giáo dục pháp luật

Giáo dục pháp luật là quá trình hoàn thiện nhân tố xã hội - pháp lý của con người, nâng cao khả năng sáng tạo của con người trước đời sống thực tiễn. Giáo dục pháp luật là quá trình tác động của nhiều hình thức, phương tiện vào ý thức của con người.

 Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc: Giáo dục pháp luật nhằm: Đảm bảo tính kịp thời, sát thực và phù hợp cả về phương diện nội dung, hình thức và đối tượng. Tuy nhiên, dưới góc độ tổng quan cần gắn việc giáo dục pháp luật trong nhà trường, trong các thiết chế chính trị xã hội với giáo dục ở ngoài cộng đồng xã hội và gia đình. Kết nối việc phổ biến, giáo dục pháp luật với công tác giáo dục truyền thống lịch sử và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc. Đặc biệt, cần gắn giáo dục pháp luật với quá trình thực thi nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, của từng vùng, miền địa phương và an sinh xã hội.

Ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc: Giáo dục pháp luật giúp định hướng cả về tri thức, tình cảm và hành vi cho đối tượng giáo dục góp phần làm ổn định trật tự xã hội, tạo cơ hội quản lý tốt và phát triển, nâng cao khả năng nhận thức pháp lý, sự hiểu biết pháp luật, hình thành tri thức pháp luật cần thiết cho các chủ thể (với tính cách là đối tượng nhận thức hay là đối tượng của giáo dục). Đây là mục đích hàng đầu của giáo dục pháp luật bởi lẽ sự hiểu biết pháp luật có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự phát triển của tư duy pháp lý, định hướng các hành vi của chủ thể trên thực tế.

Ví dụ: Trong thực tiễn học tập khóa văn bằng hệ chính quy tại trường Đại học Luật Hà Nội, thầy, cô khoa pháp luật Hình sự và các sinh viên đã căn cứ vào các quy định tại Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phân tích những yếu tố cấu thành của tội phạm, từ đó hoàn thành mục tiêu nghiên cứu về khoa học luật Hình sự, cung cấp cho sinh viên những kiến thức chuyên sâu và khả năng áp dụng vào thực tiễn pháp lý.

Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật chính là nguồn chính cho hoạt động giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên nói riêng và công dân Việt Nam nói chung.