1. Tranh chấp về thừa kế đất đai có phải hòa giải ?

Chào Luật sư Minh Khuê. Tôi có 1 thắc mắc như sau mong được Luật sư giải đáp. Năm 2015 bố tôi mất để lại 2 căn nhà và 1 mảnh đất ruộng. Nhà tôi đã phân chia đầy đủ cho 3 anh em. Đến tháng 7/2018 có 1 người đến và tự xưng là con của bố tôi có giấy khai sinh.

Họ đã khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu chia thừa kế. Tôi muốn hỏi Luật sư 2 câu hỏi sau:

1. Bố tôi đã mất từ 2015, đến giờ họ mới đến đòi chia tài sản có còn hợp lý không

2. Tôi nghe nói đối với tranh chấp đất đai bắt buộc phải qua thủ tục tại UBND xã . Vậy tại sao họ có thể gửi thằng lên Tòa án được ?

Luật sư trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 về thời hiệu thừa kế, quy định:

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Đất, nhà là bất động sản. Do đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm. Bố bạn mất năm 2015 cho nên vẫn còn thời hiệu yêu cầu chia di sản mà bố bạn để lại.

Như vậy, chỉ đối với những tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mới bắt buộc thông qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi hòa giải không thành mới có thể tiến hành gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân. Nếu không qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất sẽ thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện.

Còn đối với những tranh chấp khác, trong đó có tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà đương sự có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để được giải quyết.

2. Giải quyết vấn đề thừa kế để bán tài sản ?

Kính gởi công ty Luật Minh Khuê. Tôi có một câu hỏi liên quan đến quyền thừa kế như sau: Ba tôi mất được 3 năm. Gia đình tôi có hai cái nhà đều đứng tên cha và mẹ tôi, cả hai nhà đều có sổ đỏ, đồng sở hữu hơn 10 năm.
Nay gia đình tôi cần bán 01 căn nhà. Gia đình tôi có 2 anh em trai và một người chị gái là con của ba tôi với vợ trước. Mẹ của chị tôi đã mất từ những năm 70. Chị tôi cũng lớn và có gia đình ở riêng từ rất lâu. Chị tôi có 2 cháu trai. Chị tôi đồng ý để lại toàn bộ tài sản cho 2 anh em và mẹ tôi mà không đòi hỏi gì. Tuy nhiên chị tôi lại chỉ có sổ hộ khẩu, giấy chứng minh thư mà không có giấy khai sinh, giấy khai sinh đã mất từ rất lâu. Nơi chị tôi sinh lại không cùng với sổ hộ khẩu.
Vậy xin hỏi quý công ty: Thủ tục và các bước thực hiên cần thiết để mẹ tôi có thể bán được lô đất của mình ?
Trân trọng cảm ơn quý công ty!

>> Luật sư tư vấn Luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Như thông tin bạn cung cấp thì 2 căn nhà trên 1 mảnh đất là tài sản chung của bố mẹ bạn, bố bạn đã qua đời 3 năm và xác định được những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn gồm có: mẹ bạn, chị gái, anh trai và bạn. Từ thời điểm bố bạn qua đời vẫn chưa thực hiện phân chia di sản thừa kế. Nay mẹ bạn muốn bán 1 phần đất, để thực hiện đúng với quy định của pháp luật gia đình bạn cần thực hiện như sau:

- Trước hết phải thực hiện phân chia di sản thừa kế của bố bạn. 2 căn nhà trên 1 mảnh đất như bạn nói được chia thành 2 phần đều nhau, một phần là của mẹ bạn - bởi đây là tài sản chung của vợ chồng. Phần còn lại của bố bạn sẽ thực hiện phân chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, mỗi người được hưởng một phần di sản bằng nhau. Điều này được quy định tại khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 :

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Khi thực hiện phân chia di sản thừa kế, những đồng thừa kế có thể tự thỏa thuận với nhau về việc phân chia di sản hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế. Nếu các đồng thừa kế thỏa thuận được với nhau thì phải lập thành văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất, đồng thời văn bản này phải được công chứng bởi công chứng nhà nước hoặc chứng thực tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như thông tin bạn cung cấp, chị gái cùng cha khác mẹ với bạn đồng ý để lại tài sản thừa kế cho mẹ bạn và 2 anh em bạn mà không đòi hỏi gì. Mặc dù vậy, trong quá trình phân chia di sản thừa kế người chị này vẫn phải có mặt, thể hiện ý chí của mình là không nhận di sản thừa kế của bố để lại trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói trên.

Do chị gái bạn từ chối nhận di sản thừa kế nên phần di sản của bố bạn được chia đều cho mẹ bạn và 2 anh em bạn. Ngoài ra, 2 anh em bạn cũng có thể thỏa thuận để mẹ bạn đứng tên trên toàn bộ diện tích nhà đất này.

Sau khi đã có văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, các đồng thừa kế đều đã xác định được phần di sản mà mỗi người được hưởng và có quyền định đoạt đối với tài sản của mình.

Về phía mẹ bạn, chúng ta xác định được, 1/2 nhà và đất trên là của mẹ bạn, thêm vào đó là phần nhà đất là di sản được hưởng từ bố bạn. Các diện tích đất này đều thuộc quyền sử dụng riêng hợp pháp của mẹ bạn, và mẹ bạn hoàn toàn có quyền định đoạt đối với diện tích này.

- Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 168 khoản 1 quy định về thời điểm thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất là thời điểm có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều đó đồng nghĩa với việc, mẹ bạn phải thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật hiện hành trước thì mới có thể thực hiện quyền chuyển nhượng của mình.

- Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

+ Các bên lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

+ Công chứng hoặc chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định: "Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này".

+ Thực hiện các thủ tục sang tên sổ đỏ cho bên nhận chuyển nhượng tại Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện.

+ Thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhà nước (thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản và lệ phí trước bạ)

+ Nhận sổ đỏ mới. Cơ quan có thẩm quyền cấp sổ đỏ là UBND huyện.

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Con riêng của ông nội có được thừa kế quyền sử dụng đất không ?

Luật sư cho tôi hỏi: bà nội tôi sinh được một mình ba tôi, còn ông nội thì đi với người khác có một người con trai và một gái, nhưng không có đăng ký kết hôn. Còn ông nội và bà nội có đăng ký kết hôn. Ông tôi mất đi để lại mảnh đất 1500 m2. Người con riêng của ông nội muốn tranh giành mảnh đất này.
Vậy người này có được hưởng phần nào trong mảnh đất 1500 m2 hay không ?
Mong sớm nhận được tư vấn của Luật sư. Tôi xin cảm ơn!

Con riêng của ông nội có được thừa kế quyền sử dụng đất không?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ để chúng tôi có thể tư vấn cụ thể và chính xác nhất cho bạn, vì vậy, chúng tôi chỉ căn cứ trên những thông tin mà bạn cung cấp để tư vấn cho bạn. Cụ thể như sau:

Trường hợp thứ nhất, ông nội bạn mất để lại di chúc.

Trong trường hợp này, sẽ căn cứ vào nội dung của di chúc, nếu di chúc hợp pháp, đúng quy định của pháp luật để phân chia di sản thừa kế của ông bạn theo quy định tại Chương XXII Bộ Luật dân sự năm 2015. Theo đó:

Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

Một là, người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

Hai là, nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Về hình thức của di chúc: Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Trong đó:

Di chúc bằng văn bản bao gồm:

- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

- Di chúc bằng văn bản có công chứng;

- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Di chúc miệng trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Như vậy, bạn cần chứng minh được việc ông nội bạn có để lại di chúc hay không, nội dung di chúc như thế nào? Có đáp ứng đầy đủ các điều kiện để di chúc được xem là hợp lệ? Trong trường hợp, di chúc đáp ứng được đầy đủ tất cả các điều kiện để di chúc được xem là hợp pháp thì lúc này, chỉ cần căn cứ vào nội dung di chúc là ông bạn để lại mảnh đất này cho ai thì người đó sẽ được hưởng thừa kế theo nội dung di chúc. Tuy nhiên, theo Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc gồm:

- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

- Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Những người này vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất.

Như vậy, trong trường hợp, ông nội bạn mất có để lại di chúc hợp pháp. Di chúc không để lại di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật cho bà nội, bố của bạn, người con riêng của ông nội bạn. Do đó, tại thời điểm mở thừa kế, bà nội bạn là vợ sẽ được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật. Còn bố bạn hoặc người con riêng của ông nội bạn nếu thuộc trường hợp là người bị mắc các bệnh tâm thần, hoặc các bệnh khác mà không có khả năng lao động thì người con riêng này và bố bạn vẫn sẽ được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật.

Trường hợp thứ hai, ông bạn mất, không để lại di chúc.

Mảnh đất 1500 m2 sẽ được chia theo pháp luật theo Chương XXIII Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, sau khi ông nội bạn mất không để lại di chúc, di sản để lại thừa kế sẽ được chia theo hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà nội, bố bạn, và người con riêng của ông nội. Người vợ thứ hai của ông sẽ không được hưởng di sản thừa kế vì bà không đăng ký kết hôn với ông nội bạn, nên sẽ không được xem là vợ hợp pháp.

Chính vì vậy, người con riêng của ông bạn được xem là con ruột của ông, nếu họ chứng minh được có quan hệ huyết thống với ông bạn thì họ đương nhiên thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bạn, mảnh đất này phải chia cho cả hai người con riêng của ông bạn. Việc chứng minh quan hệ huyết thống này phải có xác nhận của Cơ quan đăng ký hộ tịch hoặc có bản án, quyết định của Tòa án về việc xác nhận quan hệ cha con giữa ông bạn và người con riêng này.
Trong trường hợp, người con riêng không chứng minh được có quan hệ huyết thống với ông bạn thì họ sẽ không được hưởng thừa kế.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Tranh chấp diện thừa kế khi chính quyền xác nhân sai ?

Thưa luật sư, hiện tại mình đang vướng vào vụ kiện tụng phân chia tài sản thừa kế do bà nội mình để lại. Cụ thể như sau:- Gia đình mình có 4 người đó là bà nội, bố mẹ mình và mình.- Vào tháng 1/2009 thì bố mình mất, sau đó 4 tháng là tháng 5/2009 thì bà nội cũng mất theo. Hiện tại thì bà dì của mình tức là em của bà nội mình kiện ra tòa để phân chia tài sản của bà nội mình để lại. Vậy mình xin hỏi là trong trường hợp của mình thì bà dì mình có được chia tài sản của bà nội mình không và trong trường hợp của mình thì luật thừa kế thế vị có được áp dụng hay không?Mình xin chân thành cảm ơn!
Người hỏi: T.B.L

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế: 1900.6162

Trả lời:

- Căn cứ theo quy định tại điều 651 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, theo quy định của pháp luật do bố bạn mất trước bà nội bạn nên khi bà nội bạn mất, bạn sẽ thừa kế thế vị cho bố của bạn với vai trò thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Bà dì của bạn thuộc hàng thừa kế thứ hai chỉ được hưởng thừa kế tài sản của bà nội bạn khi xảy ra trường hợp được quy định nêu trên. Đương nhiên, trong trường hợp của bện nêu ra, bà dì của bạn sẽ không được hưởng thừa kế.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn soạn thảo, xác lập di chúc và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Tư vấn tranh chấp thừa kế về đất đai do bố mẹ để lại ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Cách đây 8 năm bố tôi có cho tôi xây nhà. Trên sổ đỏ của bố mẹ tôi, được sự đồng ý của 10 anh, chị, em. Được 2 năm thì bố tôi mất, 4 năm sau thì mẹ tôi mất.

Ba anh em trai tôi được bố mẹ cho xây nhà bằng di chúc miệng. Còn hai chị gái thì đã sang tên sổ đỏ cùng một thửa đất đó. Còn 5 chị em gái được chia 7 cây vàng cách đây 2 năm về trước. Tất cả đều được chia bằng miệng (không có giấy tờ). Hiện nay 7 chị em gái đang làm đơn kiện 3 anh em tôi để chia làm 10 số đất còn lại mang tên bố mẹ đã mất.

Tôi xin hỏi ngôi nhà tôi xây được 8 năm nay không bị anh em và hàng xóm kiện tụng gì thì tôi có được hưởng di chúc bằng miệng không hay bị chia thành 10 phần như các chị nói ? Hai chị đã nhận đất và sang tên sổ đỏ nói trên thì có bị chia lại không hay được thêm một phần nữa ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.Đ.

Theo Bộ luật dân sự năm 2015 quy định

- Tại khoản 5 điều 630 của bộ luật dân sự năm 2015 quy định về di chúc hợp pháp như sau:

Điều 630. Di chúc hợp pháp
1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

- Theo điểm a khoản 1 của điều 651 bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

- Theo khoản 1, khoản 2 điều 218 bộ luật dân sự năm 2015 quy định :

Điều 218. Định đoạt tài sản chung
1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.
2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua.
Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung.
Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.

Như vậy, theo các quy định trên thì di chúc miệng của bố mẹ bạn không được coi là hợp pháp vì di chúc không được ghi chếp lại để công chứng hoặc chứng thực được. Tài sản bố mẹ bạn để lại ở đây bao gồm quyền sử dụng đất chia cho người 2 anh trai bạn xây nhà và 2 người chị gái bạn làm sổ đỏ, 7 cây vàng chia cho 5 người chị em gái thì sẽ được chia đều cho 10 người. Còn về phần của bạn vì đã được bố mẹ còn sống đồng ý cho xây nhà cách đây 8 năm và nếu đã làm đầy đủ giấy tờ trên sổ đỏ thì quyền sử dụng đất ghi trên sổ đỏ là của bạn sẽ không phải chia đều cho 10 người.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn thừa kế, tặng cho quyền sử dụng nhà đất