1. Tranh chấp về thừa kế đất đai có phải hòa giải ?

Chào Luật sư Minh Khuê. Tôi có 1 thắc mắc như sau mong được Luật sư giải đáp. Năm 2015 bố tôi mất để lại 2 căn nhà và 1 mảnh đất ruộng. Nhà tôi đã phân chia đầy đủ cho 3 anh em. Đến tháng 7/2018 có 1 người đến và tự xưng là con của bố tôi có giấy khai sinh.

Họ đã khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu chia thừa kế. Tôi muốn hỏi Luật sư 2 câu hỏi sau:

1. Bố tôi đã mất từ 2015, đến giờ họ mới đến đòi chia tài sản có còn hợp lý không

2. Tôi nghe nói đối với tranh chấp đất đai bắt buộc phải qua thủ tục tại UBND xã . Vậy tại sao họ có thể gửi thằng lên Tòa án được ?

Luật sư trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, về thời hiệu thời kế.

Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 về thời hiệu thừa kế, quy định:

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Đất, nhà là bất động sản. Do đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm. Bố bạn mất năm 2015 cho nên vẫn còn thời hiệu yêu cầu chia di sản mà bố bạn để lại.

Thứ hai, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất có bắt buộc thông qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã ?

Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP quy định:

Điều 3. Về chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật quy định tại điểm b khỏan 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

1. Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

Ví dụ: Công ty A là người sử dụng lao động ký hợp đồng với ông B, trong hợp đồng ghi rõ ông B sẽ được Công ty cho đi học nghề 01 năm, đồng thời ông B có nghĩa vụ làm việc tại Công ty ít nhất là 05 năm kể từ thời điểm học xong. Tuy nhiên, sau khi học xong ông B chỉ làm việc ở Công ty A 02 năm. Công ty A khởi kiện ông B ra Tòa án buộc ông B hoàn trả chi phí đào tạo học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động. Trường hợp này, theo quy định tại Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012, khỏan 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Công ty A chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án.

2. Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điố ôểm b khỏan 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

Như vậy, chỉ đối với những tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mới bắt buộc thông qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi hòa giải không thành mới có thể tiến hành gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân. Nếu không qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất sẽ thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện.

Còn đối với những tranh chấp khác, trong đó có tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà đương sự có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để được giải quyết.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Tư vấn về thừa kế đất khi không để lại di chúc ?

Kính gửi luật sư, năm 1944 ông bà nội tôi có chia cho bố mẹ tôi 5 sào đất ( đất thanh hóa, trung bộ) để ở và canh tác . Bố mẹ sinh được 9 người con ( 6 nam 3 nữ ) lớn lên thoát ly và xây dựng gia đình . Riêng khu vườn và nhà ở chỉ còn lại có 1 bố mẹ già. Đến năm 1997 bố tôi mất và không để lại di chúc gì?

Đến năm 2010 anh trai cả đưa mẹ về ở chung cùng gia đình anh chị và chuyển toàn bộ nhà và tài sản đi nơi khác.( hiện là miếng đất trống, làm vườn). Năm 2013 mẹ mất, trước khi mẹ mất anh cả có cho bà mẹ ủy quyền bằng lăn tay cho cháu đích tôn con anh cả mà mọi người không được ai biết. Vậy cho hỏi luật sư trường hợp anh trai cả chuyển dời nhà ông bà đi nơi khác khi không có sự đồng ý của các con có đúng pháp luật không ? Nếu thưa có được không. miếng đất chưa được cấp bìa đỏ do đất trống, thuộc trách nhiệm ai.

- Các anh chị, em đang muốn được chia đất thừa kế thì trình tự như thế nào. trong khi anh cả không muốn chia vì có ủy quyền thừa kế của bà cho cháu ?

Xin chân thành cảm ơn.

Tư vấn về thừa kế đất?

Tư vấn luật dân sự về thừa kế trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, bạn cần phân biệt giấy ủy quyền và di chúc là hoàn toàn khác nhau.

Giấy ủy quyền là một văn bản pháp lý trong đó ghi nhận việc người ủy quyền chỉ định người được ủy quyền đại diện mình thực hiện một hoặc nhiều công việc trong phạm vi quy định tại giấy ủy quyền. Còn di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết (Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2005)

Giấy ủy quyền sẽ chấm dứt hiệu lực khi một trong hai bên ủy quyền hoặc bên nhận ủy quyền chết ( khoản 4 Điều 589 Bộ luật dân sự 2005). Tức là giấy ủy quyền chỉ có giá trị giữa những người còn sống với nhau. Mặt khác, di chúc là văn bản đặc biệt thể hiện ý chí của một người sau khi đã chết. Về bản chất, hai văn bản này là hoàn toàn khác nhau. Do đó, không thể áp dụng hai văn bản này vào cùng một trường hợp cụ thể như bạn đã nêu. Như vậy, trường hợp của bạn được coi là không có di chúc và việc thừa kế được thực hiện theo hàng thừa kế.

Điều 676: Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Căn cứ vào hàng thừa kế, các thành viên trong gia đình bạn sẽ được hưởng phần di sản tương ứng trong tổng số tài sản mà cha mẹ bạn đã để lại sau khi trừ hết những nghĩa vụ tài chính của cha mẹ bạn theo quy định của pháp luật.

Nếu anh cả không muốn chia hoặc xảy ra tranh chấp thì có thể tiến hành thủ tục khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Con riêng của ông nội có được thừa kế quyền sử dụng đất không ?

Luật sư cho tôi hỏi: bà nội tôi sinh được một mình ba tôi, còn ông nội thì đi với người khác có một người con trai và một gái, nhưng không có đăng ký kết hôn. Còn ông nội và bà nội có đăng ký kết hôn. Ông tôi mất đi để lại mảnh đất 1500 m2. Người con riêng của ông nội muốn tranh giành mảnh đất này.
Vậy người này có được hưởng phần nào trong mảnh đất 1500 m2 hay không ?
Mong sớm nhận được tư vấn của Luật sư. Tôi xin cảm ơn!

Con riêng của ông nội có được thừa kế quyền sử dụng đất không?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ để chúng tôi có thể tư vấn cụ thể và chính xác nhất cho bạn, vì vậy, chúng tôi chỉ căn cứ trên những thông tin mà bạn cung cấp để tư vấn cho bạn. Cụ thể như sau:

Trường hợp thứ nhất, ông nội bạn mất để lại di chúc.

Trong trường hợp này, sẽ căn cứ vào nội dung của di chúc, nếu di chúc hợp pháp, đúng quy định của pháp luật để phân chia di sản thừa kế của ông bạn theo quy định tại Chương XXII Bộ Luật dân sự năm 2015. Theo đó:

Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

Một là, người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

Hai là, nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Về hình thức của di chúc: Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Trong đó:

Di chúc bằng văn bản bao gồm:

- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

- Di chúc bằng văn bản có công chứng;

- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Di chúc miệng trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Như vậy, bạn cần chứng minh được việc ông nội bạn có để lại di chúc hay không, nội dung di chúc như thế nào? Có đáp ứng đầy đủ các điều kiện để di chúc được xem là hợp lệ? Trong trường hợp, di chúc đáp ứng được đầy đủ tất cả các điều kiện để di chúc được xem là hợp pháp thì lúc này, chỉ cần căn cứ vào nội dung di chúc là ông bạn để lại mảnh đất này cho ai thì người đó sẽ được hưởng thừa kế theo nội dung di chúc. Tuy nhiên, theo Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc gồm:

- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

- Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Những người này vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất.

Như vậy, trong trường hợp, ông nội bạn mất có để lại di chúc hợp pháp. Di chúc không để lại di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật cho bà nội, bố của bạn, người con riêng của ông nội bạn. Do đó, tại thời điểm mở thừa kế, bà nội bạn là vợ sẽ được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật. Còn bố bạn hoặc người con riêng của ông nội bạn nếu thuộc trường hợp là người bị mắc các bệnh tâm thần, hoặc các bệnh khác mà không có khả năng lao động thì người con riêng này và bố bạn vẫn sẽ được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật.

Trường hợp thứ hai, ông bạn mất, không để lại di chúc.

Mảnh đất 1500 m2 sẽ được chia theo pháp luật theo Chương XXIII Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, sau khi ông nội bạn mất không để lại di chúc, di sản để lại thừa kế sẽ được chia theo hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà nội, bố bạn, và người con riêng của ông nội. Người vợ thứ hai của ông sẽ không được hưởng di sản thừa kế vì bà không đăng ký kết hôn với ông nội bạn, nên sẽ không được xem là vợ hợp pháp.

Chính vì vậy, người con riêng của ông bạn được xem là con ruột của ông, nếu họ chứng minh được có quan hệ huyết thống với ông bạn thì họ đương nhiên thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bạn, mảnh đất này phải chia cho cả hai người con riêng của ông bạn. Việc chứng minh quan hệ huyết thống này phải có xác nhận của Cơ quan đăng ký hộ tịch hoặc có bản án, quyết định của Tòa án về việc xác nhận quan hệ cha con giữa ông bạn và người con riêng này.
Trong trường hợp, người con riêng không chứng minh được có quan hệ huyết thống với ông bạn thì họ sẽ không được hưởng thừa kế.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Tranh chấp diện thừa kế khi chính quyền xác nhân sai ?

Gia đình có tám con nhưng cán bộ phường vẫn dễ dãi xác nhận chỉ có một con duy nhất. Gần tháng nay, bảy anh chị em của anh Lê Thành Điệp (phường 4, quận Gò Vấp, TP.HCM) đứng ngồi không yên vì bị người anh cả lập hồ sơ tự khai nhận là con duy nhất để truất phế quyền thừa kế của họ.

Lọt qua nhiều “cửa ải”

Cha mẹ anh Điệp có tất cả tám người con. Khi qua đời, cha mẹ anh có để lại một căn nhà ở phường 4, quận Gò Vấp. Các anh em thống nhất ủy quyền cho anh cả làm người đại diện thừa kế đứng tên trên giấy chủ quyền nhà đất.

Tranh chấp nảy sinh khi toàn bộ căn nhà nằm trong diện giải tỏa trắng để chính quyền xây dựng đường vành đai Tân Sơn Nhất-Bình Lợi. Khi chuẩn bị lập văn bản khai nhận di sản để cùng lãnh tiền bồi thường, các anh em của anh Điệp “thất kinh” khi nghe tin người anh cả đã được Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận giao trọn số tiền bồi thường (hơn 600 triệu đồng).

Thì ra để “mình ên” nhận tiền bồi thường, người anh cả của anh Điệp đã đến Phòng Công chứng số 1 TP.HCM lập thủ tục khai nhận di sản và tự nhận mình là người thừa kế duy nhất của người chết. Khi tiếp nhận yêu cầu của người anh cả, Phòng Công chứng số 1 đã có công văn đề nghị UBND phường 4 niêm yết văn bản khai nhận di sản tại phường trong thời hạn 30 ngày và cử một cán bộ liên hệ với UBND phường 4 để hoàn tất thủ tục niêm yết này. Ngày 18-12-2008, sau khi hết hạn niêm yết, Phòng Công chứng số 1 đã chứng nhận văn bản khai nhận di sản cho người anh cả.

Kế tiếp, bằng văn bản khai nhận di sản đã được công chứng trên, người anh cả đã liên hệ với Phòng Quản lý đô thị quận Gò Vấp làm thủ tục sang tên đối với căn nhà trên. Sau khi được UBND quận Gò Vấp cấp “giấy hồng” công nhận được quyền sở hữu riêng căn nhà, người anh cả đã liên hệ với Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận để nhận tiền bồi thường.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Lỗi của ai?

Theo anh Điệp thì người cán bộ phường đã làm việc với cán bộ Phòng Công chứng số 1 về việc niêm yết văn bản khai nhận di sản cũng chính là người trực tiếp tham gia hòa giải tranh chấp giữa các anh em của anh, tức biết rõ mười mươi người anh cả đã khai trình không đúng sự thật. Vậy sao vẫn xác nhận?

PV Báo Pháp Luật TP.HCM đã liên hệ với UBND phường 4, quận Gò Vấp để xác minh thực hư. Thật bất ngờ khi nơi này cho biết “UBND phường không nhận được công văn của Phòng Công chứng số 1 và chưa hề thực hiện việc niêm yết công khai tại phường về căn nhà nêu trên”.

Ông Thân Trọng Minh, Chủ tịch UBND phường 4, cho biết: “Đối với trường hợp tranh chấp thừa kế của gia đình anh Điệp, phường đã hòa giải nhưng không thành. Nếu nhận được công văn đề nghị niêm yết, dứt khoát chúng tôi sẽ yêu cầu Phòng Công chứng số 1 từ chối làm thủ tục khai nhận di sản cho người anh cả”. Về thông tin “biên bản niêm yết có chữ ký xác nhận của cán bộ tư pháp phường”, ông Minh thẳng thắn: “Cán bộ trên đã qua mặt UBND phường khi tự ý ký xác nhận biên bản niêm yết. Đây là hành vi sai phạm của cá nhân người cán bộ. Sắp tới, lãnh đạo UBND phường sẽ xem xét, xử lý sai phạm này”. Cũng theo ông Minh, Phòng Công chứng số 1 có một phần trách nhiệm trong vụ việc khi vô tư chấp nhận chữ ký của người không có thẩm quyền ở phường để làm căn cứ giải quyết hồ sơ khai nhận di sản.

Tuy nhiên, ông Từ Dương Tuấn, Phó phòng Công chứng số 1, lại cho rằng: “Pháp luật không quy định biên bản niêm yết phải được tổ chức đóng dấu xác nhận nên Phòng không có lý do gì để từ chối biên bản niêm yết chỉ có chữ ký của cán bộ tư pháp”.

Nhiều ý kiến cho rằng tại thời điểm này thì các anh chị em anh Điệp chỉ còn cách khởi kiện người anh cả để đòi lại số tiền bồi thường nêu trên. Nhưng rõ ràng là nếu ngay từ đầu cán bộ tư pháp phường và Phòng Công chứng số 1 xử lý chặt chẽ hồ sơ khai nhận di sản của người anh này thì các rắc rối đã không xảy ra.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Tư vấn tranh chấp thừa kế về đất đai do bố mẹ để lại ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Cách đây 8 năm bố tôi có cho tôi xây nhà. Trên sổ đỏ của bố mẹ tôi, được sự đồng ý của 10 anh, chị, em. Được 2 năm thì bố tôi mất, 4 năm sau thì mẹ tôi mất.

Ba anh em trai tôi được bố mẹ cho xây nhà bằng di chúc miệng. Còn hai chị gái thì đã sang tên sổ đỏ cùng một thửa đất đó. Còn 5 chị em gái được chia 7 cây vàng cách đây 2 năm về trước. Tất cả đều được chia bằng miệng (không có giấy tờ). Hiện nay 7 chị em gái đang làm đơn kiện 3 anh em tôi để chia làm 10 số đất còn lại mang tên bố mẹ đã mất.

Tôi xin hỏi ngôi nhà tôi xây được 8 năm nay không bị anh em và hàng xóm kiện tụng gì thì tôi có được hưởng di chúc bằng miệng không hay bị chia thành 10 phần như các chị nói ? Hai chị đã nhận đất và sang tên sổ đỏ nói trên thì có bị chia lại không hay được thêm một phần nữa ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.Đ.

Theo Bộ luật dân sự năm 2005 quy định

- Tại khoản 5 điều 652 của bộ luật dân sự năm 2005 quy định về di chúc hợp pháp như sau:

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

- Theo điểm a khoản 1 của điều 676 bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết

- Theo khoản 1, khoản 2 điều 223 bộ luật dân sự năm 2005 quy định :

Điều 223. Định đoạt tài sản chung

1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo các quy định trên thì di chúc miệng của bố mẹ bạn không được coi là hợp pháp vì di chúc không được ghi chếp lại để công chứng hoặc chứng thực được. Tài sản bố mẹ bạn để lại ở đây bao gồm quyền sử dụng đất chia cho người 2 anh trai bạn xây nhà và 2 người chị gái bạn làm sổ đỏ, 7 cây vàng chia cho 5 người chị em gái thì sẽ được chia đều cho 10 người. Còn về phần của bạn vì đã được bố mẹ còn sống đồng ý cho xây nhà cách đây 8 năm và nếu đã làm đầy đủ giấy tờ trên sổ đỏ thì quyền sử dụng đất ghi trên sổ đỏ là của bạn sẽ không phải chia đều cho 10 người.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?