1. Bảy (07) trường hợp cấm cho vay theo Thông tư 06/2023/TT-NHNN
Thông tư 06/2023/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về các nhu cầu vốn không được cho vay cho tổ chức tín dụng đã được ban hành để hạn chế và kiểm soát sự sử dụng vốn vay trong các trường hợp nhất định. Dưới đây là danh sách chi tiết về các loại nhu cầu vốn không được vay theo Thông tư này:
- Đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề cấm theo Luật Đầu tư: Thông tư 06/2023/TT-NHNN quy định rằng tổ chức tín dụng không được cung cấp vốn cho bất kỳ hoạt động đầu tư kinh doanh nào mà nằm trong danh sách ngành, nghề bị cấm đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư. Điều này nhằm đảm bảo rằng nguồn vốn từ tổ chức tín dụng không được sử dụng cho các lĩnh vực mà pháp luật quy định là không được phép đầu tư.
- Thanh toán các chi phí và nhu cầu tài chính liên quan đến ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh: Thông tư cũng cấm tổ chức tín dụng cung cấp tín dụng để thanh toán các chi phí hoặc đáp ứng các nhu cầu tài chính liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư. Ngoài việc không được cho vay cho hoạt động đầu tư cấm, các giao dịch và hành vi mà pháp luật cấm cũng không được hỗ trợ tài chính bằng cách cung cấp vốn từ tổ chức tín dụng. Điều này đảm bảo rằng vốn từ nguồn tín dụng không được sử dụng để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hoặc đầu tư vào các ngành, nghề không được phép.
- Mua sắm hàng hóa và dịch vụ trong ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh: Tổ chức tín dụng không được cho vay để mua bất kỳ sản phẩm hoặc dịch vụ nào thuộc danh sách ngành, nghề bị cấm đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư. Điều này có nghĩa là người vay không thể sử dụng vốn từ tổ chức tín dụng để mua các sản phẩm hoặc dịch vụ trong những lĩnh vực không được phép kinh doanh theo quy định của pháp luật. Mục tiêu là đảm bảo rằng vốn tín dụng không được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động vi phạm pháp luật hoặc đầu tư vào các ngành, nghề bị cấm.
- Mua vàng miếng: Tổ chức tín dụng không thể cấp vốn cho mục đích mua vàng miếng. Điều này áp dụng đối với các trường hợp mua vàng vật chất như tài sản. Tương tự như trước đây, mục tiêu là ngăn chặn việc sử dụng vốn tín dụng để mua vàng vật chất như một hình thức đầu tư hoặc tích trữ giá trị, đặc biệt trong trường hợp việc mua vàng miếng được coi là không có lợi ích cho kinh doanh hoặc nhu cầu đời sống cá nhân của khách hàng vay.
- Trả nợ cấp tín dụng tại tổ chức tín dụng cho vay: Tổ chức tín dụng không được cung cấp vốn cho mục đích trả nợ tại tổ chức tín dụng cho vay, trừ trường hợp đặc biệt. Một trong những trường hợp đặc biệt cho phép sử dụng vốn tín dụng để thanh toán lãi tiền vay phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình. Tuy nhiên, điều quan trọng là chi phí lãi tiền vay này phải được tính vào tổng mức đầu tư xây dựng và phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật. Mục tiêu là đảm bảo rằng việc sử dụng vốn tín dụng để trả nợ tại tổ chức tín dụng cho vay được thực hiện theo các quy định và để phục vụ mục tiêu xây dựng và phát triển các dự án xây dựng công trình.
- Trả nợ khoản vay nước ngoài: Tổ chức tín dụng không được cung cấp vốn để trả nợ nước ngoài, ngoại trừ trong trường hợp đặc biệt. Điều này áp dụng cho tất cả các khoản vay nước ngoài, ngoại trừ khoản vay nước ngoài dưới hình thức mua bán hàng hóa trả chậm. Trong trường hợp đặc biệt, việc cho vay để trả nợ trước hạn của khoản vay là cho phép, với điều kiện rằng thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn cho vay còn lại của khoản vay cũ, và khoản vay này chưa được cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Điều này giúp đảm bảo rằng việc sử dụng vốn tín dụng để trả nợ nước ngoài chỉ diễn ra trong các tình huống cụ thể và được kiểm soát.
- Gửi tiền: Tổ chức tín dụng không được cung cấp vốn để gửi tiền. Điều này đảm bảo rằng nguồn tài chính từ tổ chức tín dụng không được sử dụng để tiết kiệm hoặc gửi vào các tài khoản tiết kiệm và không được sử dụng để gửi tiền mà không có mục tiêu kinh doanh hoặc đầu tư cụ thể.
2. Vay tiền để bù đắp tài chính có được không?
Thông tư 06/2023/TT-NHNN đã đưa ra bổ sung một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực tài chính và cho vay, đó là "Cho vay bù đắp tài chính". Khái niệm này định nghĩa việc tổ chức tín dụng cung cấp vốn cho khách hàng vay nhằm mục đích bù đắp các chi phí đã thanh toán hoặc chi trả bằng vốn của chính khách hàng, cũng như bằng vốn vay từ cá nhân hoặc tổ chức khác (không phải tổ chức tín dụng). Mục tiêu của việc cho vay bù đắp tài chính là hỗ trợ khách hàng thực hiện các phương án kinh doanh hoặc dự án hoạt động kinh doanh, hoặc thực hiện các phương án, dự án phục vụ nhu cầu đời sống cá nhân.
Theo quy định tại Thông tư 10/2023/TT-NHNN, kể từ ngày 01/9/2023, khách hàng vay vẫn có khả năng vay tiền để bù đắp tài chính của họ. Điều này có nghĩa là các tổ chức tín dụng vẫn sẽ cung cấp vốn vay cho khách hàng để giúp họ thực hiện các phương án kinh doanh hoặc dự án cá nhân, bằng cách cho vay nhằm bù đắp các chi phí đã thanh toán hoặc chi trả bằng tài sản của họ hoặc từ các nguồn tài chính khác. Điều này giúp khách hàng tiếp tục phát triển hoạt động kinh doanh hoặc thực hiện các dự án theo kế hoạch của họ mà không bị hạn chế về khía cạnh tài chính.
3. Trường hợp cấm cho vay theo Thông tư 10/2023/TT-NHNN
Trước khi ban hành Thông tư 06/2023/TT-NHNN, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đưa ra các quy định rõ ràng liên quan đến ngưng hiệu lực thi hành một số nội dung của Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Thông tư này, được bổ sung tại Thông tư 06/2023/TT-NHNN, đã có hiệu lực kể từ ngày 01/9/2023. Cụ thể, Thông tư 10/2023/TT-NHNN đã ngưng hiệu lực thi hành một số điểm quan trọng trong Thông tư 39/2016/TT-NHNN, đặc biệt đối với 3 trường hợp cấm cho vay:
- Để thanh toán tiền góp vốn, mua, nhận chuyển nhượng phần vốn góp của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; góp vốn, mua, nhận chuyển nhượng cổ phần của công ty cổ phần chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch Upcom: Tổ chức tín dụng không được cấp vốn cho các mục đích này. Điều này nhằm đảm bảo rằng vốn từ tổ chức tín dụng không được sử dụng để tham gia vào việc góp vốn hoặc mua cổ phần của các doanh nghiệp chưa niêm yết hoặc không được giao dịch trên thị trường chứng khoán.
- Để thanh toán tiền góp vốn theo hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh để thực hiện dự án đầu tư không đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo quy định của pháp luật tại thời điểm tổ chức tín dụng quyết định cho vay: Tổ chức tín dụng không được cấp vốn để thanh toán việc góp vốn cho các dự án đầu tư không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Điều này giúp đảm bảo rằng vốn từ tổ chức tín dụng không được sử dụng để tham gia vào những dự án không đủ điều kiện kinh doanh theo quy định.
- Để bù đắp tài chính: Trừ trường hợp đặc biệt, việc cung cấp vốn tín dụng để bù đắp tài chính là không được phép. Một số trường hợp đặc biệt chỉ cho phép việc vay để bù đắp tài chính, và cụ thể, các điều kiện sau đây phải được đáp ứng:
+ Khách hàng đã ứng vốn của chính họ để thanh toán các chi phí thực hiện dự án hoạt động kinh doanh trong khoản thời gian không quá 12 tháng tính đến thời điểm tổ chức tín dụng quyết định cho vay.
+ Các chi phí đã thanh toán và chi trả bằng vốn của chính khách hàng nhằm thực hiện dự án hoạt động kinh doanh phải liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn từ tổ chức tín dụng theo phương án đã được xem xét cho vay trung và dài hạn để thực hiện dự án hoạt động kinh doanh đó.
Xem thêm:
- Cho vay là gì? Quy định về cấm cho vay và hạn chế cho vay?
- Ngưng thi hành quy định cấm cho vay theo Thông tư 10/2023/TT-NHNN
Khi có thắc mắc cần tư vấn, liên hệ ngay hotline 19006162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn