1. Tổng quan về Nghị định 91/2022/NĐ-CP
Vào ngày 30 tháng 10 năm 2022, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 91/2022/NĐ-CP, nhằm sửa đổi và bổ sung một số quy định tại Nghị định 126/2020/NĐ-CP liên quan đến việc hướng dẫn Luật Quản lý thuế. Nghị định mới này đưa ra những điều chỉnh quan trọng đối với quy định về số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) tạm nộp của các quý trong năm.
Theo quy định của Nghị định 91/2022/NĐ-CP, tổng số thuế TNDN đã tạm nộp trong 04 quý không được thấp hơn 80% số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán năm. Trước khi có sự thay đổi này, Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định rằng tổng số thuế TNDN đã tạm nộp trong 03 quý đầu năm không được thấp hơn 75% số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán năm.
Tuy nhiên, Nghị định 91/2022/NĐ-CP cũng đưa ra hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng tỷ lệ tạm nộp thuế cho năm tính thuế 2021. Cụ thể, nếu tính đến ngày 30 tháng 10 năm 2022, số thuế tạm nộp của 03 quý đầu năm 2021 của người nộp thuế đã đạt hoặc vượt mức 75% số thuế phải nộp theo quyết toán năm, thì sẽ không cần phải áp dụng quy định tỷ lệ tạm nộp 80% cho 04 quý theo quy định tại khoản 3, 4, 5 Điều 1 của Nghị định 91/2022/NĐ-CP. Ngược lại, nếu số thuế tạm nộp của 03 quý đầu năm 2021 thấp hơn mức 75% số thuế phải nộp theo quyết toán năm, thì người nộp thuế sẽ phải áp dụng tỷ lệ tạm nộp 80% cho cả 04 quý, trừ khi số tiền chậm nộp không tăng thêm.
Nghị định 91/2022/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 30 tháng 10 năm 2022 và sẽ thay thế các quy định trước đây về việc tạm nộp thuế TNDN theo Nghị định 126/2020/NĐ-CP.
2. Những điểm mới chính của Nghị định 91/2022/NĐ-CP
1. Bổ sung quy định kết thúc thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, thời hạn nộp thuế
Nghị định 91/2022/NĐ-CP, ban hành ngày 30 tháng 10 năm 2022, đã chính thức bổ sung một số quy định quan trọng liên quan đến thời hạn trong công tác quản lý thuế. Theo quy định mới, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, thời hạn nộp thuế, thời hạn cơ quan quản lý thuế giải quyết hồ sơ, cũng như thời hạn hiệu lực của quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế, sẽ được thực hiện theo các quy định đã được quy định trong Luật Quản lý thuế và Nghị định này.
Một điểm đáng lưu ý trong Nghị định 91/2022/NĐ-CP là quy định về việc điều chỉnh thời hạn khi ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, nộp thuế, giải quyết hồ sơ, hoặc hiệu lực của quyết định cưỡng chế trùng với ngày nghỉ theo quy định. Cụ thể, trong trường hợp này, ngày cuối cùng của thời hạn sẽ được tính là ngày làm việc liền kề ngay sau ngày nghỉ đó. Quy định này nhằm đảm bảo rằng người nộp thuế và các cơ quan quản lý thuế đều có đủ thời gian cần thiết để thực hiện các nghĩa vụ của mình mà không bị ảnh hưởng bởi các ngày nghỉ lễ hoặc ngày nghỉ theo quy định.
Những điều chỉnh này không chỉ làm rõ quy trình và thời hạn liên quan đến các thủ tục thuế mà còn giúp nâng cao tính minh bạch và công bằng trong việc thực thi các quyết định hành chính liên quan đến quản lý thuế.
2. Bổ sung trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế
Nghị định 91/2022/NĐ-CP, được ban hành vào ngày 30 tháng 10 năm 2022, đã bổ sung một quy định quan trọng liên quan đến nghĩa vụ nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân. Theo quy định mới này, trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân đã được quy định cụ thể hơn để tạo thuận lợi cho người nộp thuế và giảm bớt thủ tục hành chính.
Cụ thể, người khai thuế thu nhập cá nhân là tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập, thuộc trường hợp phải khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng hoặc quý, sẽ không cần phải nộp hồ sơ khai thuế trong trường hợp tháng hoặc quý đó không phát sinh việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân của đối tượng nhận thu nhập. Điều này có nghĩa là nếu trong một tháng hoặc một quý, tổ chức hoặc cá nhân không thực hiện việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân từ khoản thu nhập của người nhận thu nhập, thì không cần phải thực hiện việc khai thuế cho kỳ đó.
Quy định này nhằm đơn giản hóa quy trình khai thuế cho các tổ chức và cá nhân, đồng thời giảm thiểu các thủ tục hành chính không cần thiết khi không có phát sinh nghĩa vụ thuế. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc cải cách hệ thống thuế, giúp giảm bớt gánh nặng cho người nộp thuế và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tuân thủ các quy định về thuế thu nhập cá nhân.
3. Số thuế TNDN tạm nộp 04 quý không được thấp hơn 80% của năm
Nghị định 91/2022/NĐ-CP, ban hành ngày 30 tháng 10 năm 2022, đã thực hiện sửa đổi một số quy định quan trọng tại điểm b khoản 6 Điều 8 của Nghị định 126/2020/NĐ-CP liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo quy định mới, việc xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý có một số thay đổi đáng lưu ý.
Theo Nghị định 91/2022/NĐ-CP, thuế thu nhập doanh nghiệp, ngoại trừ thuế thu nhập doanh nghiệp từ chuyển nhượng vốn của nhà thầu nước ngoài và thuế thu nhập doanh nghiệp kê khai theo phương pháp tỷ lệ trên doanh thu theo từng lần phát sinh hoặc theo tháng, phải được xác định và tạm nộp theo quy định. Cụ thể, người nộp thuế phải tự xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý, bao gồm cả việc tạm phân bổ số thuế cho địa bàn cấp tỉnh nơi có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh, hoặc bất động sản chuyển nhượng khác với nơi người nộp thuế đóng trụ sở chính. Số thuế đã tạm nộp sẽ được trừ vào số thuế phải nộp theo quyết toán thuế năm.
Đối với những người nộp thuế thuộc diện lập báo cáo tài chính quý theo quy định của pháp luật về kế toán, việc xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý sẽ được thực hiện dựa trên báo cáo tài chính quý và các quy định của pháp luật về thuế. Trong khi đó, những người nộp thuế không thuộc diện lập báo cáo tài chính quý sẽ căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh của quý và các quy định về thuế để xác định số thuế tạm nộp.
Một điểm quan trọng trong quy định mới là tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp trong 04 quý không được thấp hơn 80% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm. Nếu người nộp thuế không nộp đủ số thuế tạm nộp trong 04 quý, sẽ phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế còn thiếu từ ngày tiếp theo của ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế quý 04 đến ngày trước ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, người nộp thuế thực hiện dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà để chuyển nhượng hoặc cho thuê mua, và thu tiền ứng trước của khách hàng theo tiến độ phù hợp với quy định pháp luật, sẽ thực hiện tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quý theo tỷ lệ 1% trên số tiền thu được. Trường hợp chưa bàn giao cơ sở hạ tầng, nhà, và chưa tính vào doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm, số thuế này sẽ không được tổng hợp vào hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm mà sẽ được tổng hợp vào hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp khi bàn giao bất động sản đối với từng phần hoặc toàn bộ dự án.
4. Sửa đổi quy định lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Theo Nghị định 91/2022/NĐ-CP, quy định về lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đã được điều chỉnh rõ ràng và cụ thể. Theo đó, người nộp thuế có trách nhiệm tự xác định số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ để tạm nộp vào quý tiếp theo. Thời hạn để thực hiện việc tạm nộp này là chậm nhất vào ngày 30 của quý tiếp theo sau quý phát sinh nghĩa vụ nộp. Số lợi nhuận sau thuế còn lại đã tạm nộp sẽ được trừ vào số phải nộp theo quyết toán thuế năm.
Cụ thể, tổng số lợi nhuận sau thuế còn lại đã tạm nộp của 04 quý không được thấp hơn 80% số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quyết toán năm. Nếu số lợi nhuận sau thuế còn lại đã tạm nộp thấp hơn mức quy định, người nộp thuế sẽ phải nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền còn thiếu từ ngày tiếp theo của ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp lợi nhuận sau thuế của quý 04 đến ngày trước ngày nộp số lợi nhuận còn thiếu vào ngân sách nhà nước.
Đối với các trường hợp phải thực hiện khai bổ sung do điều chỉnh kết quả xếp loại doanh nghiệp theo công bố của chủ sở hữu từ ngày tiếp theo của ngày cuối cùng của hạn nộp lợi nhuận sau thuế theo quyết toán năm đến thời hạn công bố kết quả xếp loại doanh nghiệp của chủ sở hữu theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, doanh nghiệp không phải nộp tiền chậm nộp cho số lợi nhuận sau thuế còn lại phải nộp tăng thêm khi thực hiện khai bổ sung.
5. Số thuế TNDN tạm nộp 04 quý của hãng vận tải nước ngoài không được thấp hơn 80% của năm
Theo Nghị định 91/2022/NĐ-CP, quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các hãng vận tải nước ngoài đã được điều chỉnh cụ thể nhằm đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong việc tạm nộp thuế. Theo quy định mới, các hãng vận tải nước ngoài có nghĩa vụ phải thực hiện việc tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng quý và khai quyết toán thuế vào cuối năm. Cụ thể, tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp trong cả 04 quý không được thấp hơn 80% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm.
Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực vận tải cần phải đảm bảo rằng tổng số thuế tạm nộp trong suốt năm không thấp hơn 80% số thuế cuối cùng mà họ phải nộp khi quyết toán thuế năm. Nếu tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp trong 04 quý thấp hơn mức quy định, người nộp thuế sẽ phải nộp tiền chậm nộp trên số thuế còn thiếu. Số tiền chậm nộp này sẽ được tính từ ngày tiếp theo sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế của quý 04 đến ngày liền kề trước ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước.
Việc quy định này nhằm mục đích đảm bảo rằng các hãng vận tải nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ và đúng hạn, đồng thời cũng góp phần tăng cường tính tuân thủ thuế và giảm thiểu tình trạng nợ thuế. Các doanh nghiệp cần chú ý để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tạm nộp thuế trong từng quý để tránh phải chịu tiền phạt chậm nộp và các hệ quả pháp lý khác.
6. Sửa đổi quy định địa điểm nộp hồ sơ khai thuế bảo vệ môi trường đối với than khai thác và tiêu thụ nội địa
Theo quy định tại Nghị định 91/2022/NĐ-CP, đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác và tiêu thụ than nội địa, nếu doanh nghiệp quản lý và giao nhiệm vụ khai thác, chế biến và tiêu thụ than cho các công ty con hoặc đơn vị phụ thuộc, thì đơn vị thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ than sẽ phải đảm nhiệm việc khai thuế cho toàn bộ số thuế bảo vệ môi trường phát sinh đối với than khai thác thuộc diện chịu thuế.
Cụ thể, đơn vị thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ than phải thực hiện việc khai thuế cho toàn bộ số thuế bảo vệ môi trường phát sinh từ hoạt động khai thác than và nộp hồ sơ khai thuế đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Đồng thời, đơn vị này cũng cần phải cung cấp Bảng xác định số thuế phải nộp cho từng địa phương nơi có công ty khai thác than đóng trụ sở. Bảng xác định số thuế này phải được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Quy định này nhằm đảm bảo rằng toàn bộ số thuế bảo vệ môi trường từ hoạt động khai thác và tiêu thụ than được khai báo và nộp đúng cách, đồng thời giúp quản lý thuế tại các địa phương nơi có hoạt động khai thác than được thực hiện một cách chính xác và đầy đủ. Đây là một bước quan trọng trong việc tăng cường trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc đóng góp cho ngân sách nhà nước và bảo vệ môi trường, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý thuế hiệu quả hơn.
7. Chủ sở hữu sàn thương mại điện tử phải khai báo với cơ quan thuế thông tin của người bán hàng
Theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Nghị định 91/2022/NĐ-CP, tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam và sở hữu sàn thương mại điện tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác và đúng hạn thông tin liên quan đến thương nhân, tổ chức, cá nhân tham gia vào quy trình mua bán hàng hóa và dịch vụ trên sàn giao dịch thương mại điện tử cho cơ quan thuế. Cụ thể, các thông tin cần được cung cấp bao gồm: tên của người bán hàng; mã số thuế hoặc số định danh cá nhân, chứng minh nhân dân, căn cước công dân hoặc hộ chiếu của người bán hàng; địa chỉ và số điện thoại liên lạc của người bán hàng; và doanh thu từ việc bán hàng thông qua chức năng đặt hàng trực tuyến của sàn.
Việc cung cấp các thông tin này phải được thực hiện định kỳ hàng quý, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng đầu quý tiếp theo. Thông tin phải được gửi bằng phương thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế, theo định dạng dữ liệu do Tổng cục Thuế công bố. Quy định này nhằm đảm bảo rằng cơ quan thuế có đủ thông tin để thực hiện việc quản lý và giám sát hoạt động thương mại điện tử một cách chính xác và hiệu quả, đồng thời đảm bảo việc thu thuế được thực hiện đầy đủ và công bằng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua các sàn thương mại điện tử.
8. Thay thế mẫu thông báo về việc ngừng sử dụng hóa đơn
Thông báo về việc ngừng sử dụng hóa đơn theo Mẫu số 04-1/CC ban hành kèm theo Nghị định 91/2022/NĐ-CP thay thế Mẫu số 04-1/CC tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định 126/2020/NĐ-CP.
9. Bổ sung mẫu văn bản đề nghị điều chỉnh giảm tiền chậm nộp
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị định 91/2022/NĐ-CP, tính đến ngày 30/10/2022, nếu người nộp thuế có số thuế tạm nộp trong 03 quý đầu kỳ tính thuế năm 2021 thấp hơn 75% số thuế phải nộp theo quyết toán năm, thì họ sẽ được áp dụng tỷ lệ tạm nộp cho cả 04 quý theo quy định tại các khoản 3, 4, 5 Điều 1 của Nghị định này, với điều kiện không tăng thêm số tiền chậm nộp. Điều này có nghĩa là người nộp thuế sẽ được hưởng mức tỷ lệ tạm nộp thuế quy định cho cả 04 quý mà không phải chịu thêm tiền phạt chậm nộp, miễn là họ không tăng số tiền chậm nộp.
Trong trường hợp cơ quan thuế có thẩm quyền đã thực hiện thanh tra, kiểm tra và tính tiền chậm nộp theo các quy định tại điểm b, điểm c, điểm g khoản 6 Điều 8 của Nghị định 126/2020/NĐ-CP, và khi áp dụng tỷ lệ tạm nộp cho 04 quý theo quy định của Nghị định 91/2022/NĐ-CP dẫn đến việc giảm số tiền chậm nộp, người nộp thuế có quyền đề nghị điều chỉnh giảm tiền chậm nộp. Để thực hiện điều này, người nộp thuế cần gửi văn bản đề nghị điều chỉnh giảm tiền chậm nộp theo Mẫu số 01/GTC đến cơ quan thuế nơi phát sinh tiền chậm nộp. Đây có thể là cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan thuế có hoạt động được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Sau khi thực hiện điều chỉnh giảm tiền chậm nộp, nếu số tiền chậm nộp đã nộp thừa, người nộp thuế sẽ cần thực hiện các bước theo quy định tại Điều 60 và Chương VIII của Luật Quản lý thuế cùng các văn bản hướng dẫn thi hành để xử lý số tiền nộp thừa này. Quy định này nhằm đảm bảo sự công bằng và chính xác trong việc quản lý thuế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế trong việc điều chỉnh và khắc phục các khoản tiền chậm nộp không chính xác.
3. Ảnh hưởng của Nghị định đến người nộp thuế
Nghị định 91/2022/NĐ-CP mang lại những ảnh hưởng đáng kể đối với người nộp thuế, bao gồm cả cơ hội và thách thức.
Cơ hội:
Nghị định này mang đến nhiều điểm mới có lợi cho người nộp thuế, trong đó nổi bật là việc đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến nghĩa vụ thuế. Việc quy định rõ ràng các tỷ lệ tạm nộp thuế và quy trình điều chỉnh tiền chậm nộp đã giúp giảm bớt sự phức tạp và gia tăng tính minh bạch trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Cụ thể, việc áp dụng tỷ lệ tạm nộp thuế cho 04 quý theo quy định mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, giúp họ dễ dàng tính toán và nộp thuế đúng hạn mà không phải chịu thêm các khoản tiền phạt chậm nộp. Bên cạnh đó, việc giảm yêu cầu cung cấp thông tin về thuế từ các sàn thương mại điện tử giúp giảm thời gian và công sức của các tổ chức, đồng thời tạo ra một môi trường quản lý thuế hiệu quả hơn.
Thách thức:
Tuy nhiên, Nghị định cũng đặt ra những thách thức đáng kể cho người nộp thuế. Một trong những yêu cầu cao hơn là việc phải tuân thủ các quy định mới về báo cáo và quản lý sổ sách kế toán. Cụ thể, người nộp thuế cần phải cung cấp thông tin chi tiết và chính xác hơn về các giao dịch thương mại và doanh thu bán hàng. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải cải thiện hệ thống quản lý sổ sách kế toán và nâng cao năng lực báo cáo thuế để đáp ứng yêu cầu mới. Hơn nữa, việc theo dõi và điều chỉnh số tiền chậm nộp theo các quy định mới có thể tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp trong việc duy trì sự chính xác trong việc kê khai và thanh toán thuế. Những yêu cầu này đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư thêm thời gian, công sức và chi phí để đảm bảo sự tuân thủ đầy đủ với các quy định mới của Nghị định.
Tóm lại, Nghị định 91/2022/NĐ-CP không chỉ mang lại nhiều cơ hội thuận lợi cho người nộp thuế mà cũng đặt ra những thách thức nhất định trong việc quản lý thuế và duy trì sự tuân thủ quy định. Các doanh nghiệp cần nắm bắt những cơ hội để tối ưu hóa quy trình thuế đồng thời chuẩn bị sẵn sàng để đối mặt với các thách thức mới nhằm đảm bảo sự tuân thủ và phát triển bền vững.
Xem thêm bài viết: Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế
Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn và giải đáp quy định pháp luật nhanh chóng.