1. Khái niệm tư tưởng triết học Việt Nam 

Tư tưởng triết học Việt Nam là những tư tưởng triết học của người Việt. Trong suốt lịch sử Việt Nam nếu theo tiêu chí của một nền triết học là phải có triết gia, triết thuyết và trường phái thì Việt Nam không có một nền triết học bản địa nào. Suốt mấy thập kỷ qua, quan niệm này chiếm ưu thế trong đánh giá hoạt động văn hóa tinh thần của đất nước.

Tuy nhiên, một số học giả, một số nhà nghiên cứu vẫn nhìn nhận rằng dân tộc Việt Nam có một nền văn hiến riêng, trong nó chứa đựng một sắc thái tư tưởng không giống với các nền văn minh lân cận. Những nghiên cứu tư tưởng dân tộc làm cho việc khẳng định có một thứ tư tưởng triết học Việt Nam dần dần trở nên tự tin hơn. Đến nay, có xu hướng còn cho rằng Việt Nam không chỉ có những tư tưởng triết học mà còn có cả những học thuyết triết học theo đúng nghĩa của nó.

2. Điều kiện hình thành và phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam

          Về mặt địa lý: Việt Nam nằm ở phía Đông – Nam Châu Á, là vị trí địa lý thuận lợi cho quá trình giao lưu văn hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc và Ấn Độ trong nhiều thế kỷ trước thời kì cận đại đã tạo điều kiện hình thành nên lịch sử tư tưởng tại Việt Nam.

          Về phương diện kinh tế: Việt Nam có nền kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp lúa nước. Nền nông nghiệp nước ta dựa vào trình độ lao động thủ công và kinh nghiệm lâu đời của người nông dân.

Về tổ chức, cơ cấu xã hội truyền thống Việt Nam: Hệ thống làng xã khép kín tạo điều kiện cho nền “văn hóa làng mạc” ra đời và phát triển. Nhà nước phong kiến có hai nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức dân cư các làng xã chống giặc ngoại xâm và xây dựng duy trì hệ thống thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Về văn hóa: Việt nam có sự giao lưu, tiếp nhận các học thuyết lớn từ Ấn Độ, Trung Quốc trong sự phong kiến hóa nền văn hóa dân tộc. Điều này đã làm cho bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam có sự phong phú và đa dạng.

3. Sơ lược về các hệ thống tư tưởng lớn tại Việt Nam

          Nho giáo, Đạo gia và Phật giáo du nhập vào Việt Nam và trải qua hàng ngàn năm đã có ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng Việt Nam.

          Một là, Nho giáo còn có tên gọi khác là Khổng giáo - một hệ thống đạo đức, triết học học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đệ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội hài hòa, trong đó con người ứng xử theo lẽ phải có đạo đức, đất nước thái bình, thịnh vượng.

          Nho giáo du nhập vào nước ta rất sớm nhưng không phải là Nho giáo nguyên thủy mà là Hán nho và Tống Nho. Các triều đại đầu tiên của Việt Nam đều xa lạ với Nho giáo, phải đến thời kỳ nhà Lý, Trần thì Nho giáo mới dần phát triển. Từ thế kỉ XV đến thế kỉ IXX, trong hai triều đại Lê, Nguyễn thì Nho giáo mới thống lĩnh tư tưởng văn hóa và để lại dấu ấn lớn trong quá trình giáo dục, lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Hai là, Đạo gia du nhập vào nước ta từ khoảng cuối thế kỉ thứ II, chia làm hai phái là nội tu và ngoại dưỡng nhưng phái nội tu phát triển hơn. Thời kì phong kiến độc lập, các triều đại Đinh, Lê, lý, Trần đều coi trọng các đạo sỹ không kém các tăng sư. Tới thời Lê Trung Hưng, Đạo gia bắt đầu suy thoái, các đạo quán bị Phật giáo hóa và trở thành chùa.

Ba là, Phật giáo do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập và truyền dạy-là một trong tôn giáo lớn nhất, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo trên khắp thế giới. Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II SCN, chia làm hai hệ phái Phật giáo Bắc tông ở miền Bắc và Nam tông ở miền Nam.

Phật giáo trong thời kì nhà Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo. Tuy nhiên, đến đời nhà Hậu Lê thì Phật giáo bị suy thoái. Bước sang thế kỉ XX, Phật giáo phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu ở các đô thị miền Nam gắn với sự đóng góp của nhà sư Khánh Hòa, Thiện Chiếu.

Nho giáo, Đạo gia và Phật giáo được truyền bá vào nước ta từ thời Bắc thuộc và cả ba tôn giáo không bài trừ mà hài hòa, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Nho giáo lo tổ chức xã hội, Đạo gia lo về thể xác con người, Phật giáo lo về tinh thần, đời sống tâm linh kiếp sau của con người. Ba vị tổ sư của tam giáo là Khổng Tử- Nho giáo, Lão tử - Đạo gia, Phật Thích Ca Mâu Ni- Phật giáo đã in sâu trong tâm thức, đã được người Việt vận dụng một cách sáng tạo, dung hòa để đáp ứng nhu cầu tinh thần, tình cảm và tâm linh của con người.

4. Lịch sử tư tưởng Phật giáo ở Việt Nam

Tư tưởng triết học Phật giáo có hai bộ phận cấu thành là Siêu hình học và Nhân sinh quan. Những triết lý siêu hình học là lớp tư tưởng ở chiều sâu, trở thành nội dung căn bản trong tư tưởng triết học của các trí thức thời Lý – Trần. Những tư tưởng này là những tư tưởng triết học Ấn Độ được Trung Hoa hóa và truyền bá vào Việt Nam, được các trí thức đương thời đặc biệt coi trọng nghiên cứu và áp dụng.

Triết học nhân sinh quan có phạm trù trung tâm là “Từ bi”. Đây là phạm trù cơ bản trong triết học Phật giáo Đại thừa. Nội dung cơ bản của phạm trù là tinh thành bao dung giữa con người với cũng như với muôn loài vô tình và hữu tình. Bản chất triết học sâu xa của phạm trù này là phạm trù “Vô ngã” trong triết học Phật giáo cổ đại Ấn Độ.

Phật giáo truyền vào nước ta chủ yếu trực tiếp từ Ấn Độ và Trung Hoa tiêu biểu như các tăng sỹ: Ma Ha Kỳ Vực, Khưu Đa La, Chu Cương Lương, Đạt Ma Đề Bà... Sau đó là các phái thiền của Trung Hoa du nhập nhiều vào nước ta, hình thành nên các giáo phái lớn trong cả nước. Triết học Phật giáo sau khi du nhập vào Việt Nam thì hòa nhập với đời sống xã hội, không gây mâu thuẫn với các tư tưởng sẵn có mà ngày càng du nhập sâu sắc trong tư duy của học giả, của con người Việt Nam. Những triết lý Phật giáo đã giúp người dân khi ấy nhận thức được mục đích tồn tại, sự giải thoát là tất yếu, có áp bức sẽ có đấu tranh.

Sau quá trình đấu tranh giành độc lập, các triều đại phong kiến vẫn tiếp tục công nhận và vận dụng các tư tưởng Phật giáo để trị quốc an dân. Tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng sâu rộng nhất phải kể đến là trong giai đoạn lịch sử thời Đinh – Lê - Lý - Trần, tư tưởng Phật giáo phát triển và trở thành nội dung căn bản, nguồn gốc tư tưởng triết học của các trí thức đương thời và thậm chí ảnh hưởng cả các nhà vua trị vì thời bấy giờ. Thời nhà Đinh, Thiền sư Ngô Chân Lưu được Đinh Tiên Hoàng tôn làm Khuông Việt Thái sư (khuôn mẫu cho nước Việt). Hay thời Lê, Thiền sư Đỗ Pháp Thuận được vua trọng dụng, giúp triều đình trong việc đối nội, đối ngoại. Có thể thấy, các vị vua thời bấy giờ rất coi trọng Phật giáo và các tư tưởng này được ưu tiên vận dụng trong việc trị quốc.

Đặc biệt, vào thời Lý – Trần, các vị vua cai trị đất nước lại đều là các thiền sư lỗi lạc thời bấy giờ. Phải kể đến là vua Lý Thái Tổ (người sáng lập triều Lý) xuất thân từ chốn thiền môn (là người cùng thụ giới Sa Di với Sư Vạn Hạnh), vua Trần Thái Tông (sau khi nhường ngôi thì ông trở về tu phật pháp và trở thành một vị thiền sư cư sĩ),... Triều đình luôn cực kỳ trọng dụng các vị thiền sư trong bộ máy chính trị, phát triển tư tưởng Phật giáo thành tư tưởng trị quốc, lấy nhân nghĩa làm gốc, dân ấm no thì quốc gia sẽ hưng thịnh. Trong tác phẩm Phổ khuyến Tứ sơn của vua Trần Thái Tông, tư tưởng Phật giáo giúp con người nhận thức được tính vô thường, duyên sinh và vô ngã của thế giới sự vật hiện tượng, nhận thức được quy luật sinh – lão – bệnh – tử của con người. Quan điểm này của ông được triều định nhất mực thực hiện và truyền dạy nối tiếp qua các triều đại tiếp theo. Các quan lại triều đình, các nhà trí thức đều tiếp thu, học tập các tri thức Phật giáo và coi nó là tư tưởng trị quốc. Ở thời kỳ này, tư tưởng Phật giáo được cải biên để phù hợp với tư tưởng chính trị, tư tưởng chính trị được ngộ ra, đúc kết ra từ những tư tưởng Phật giáo.

Đến các thời đại sau, Phật giáo suy yếu dần. Tuy nhiên với truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc thì Phật giáo vẫn giữ được gốc rễ sâu bền trong lòng nhân dân; đồng thời với thái độ khoan dung, Phật giáo đã làm cho tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật, Lão, Nho) vốn có từ trước bắt đầu mang một sắc thái mới.

Giáo lý Phật pháp nhằm tạo ra sự ổn định trong mỗi gia đình và từ đó đưa đến sự ổn định và phát triển trong mỗi quốc gia. Mỗi quốc gia ổn định, hạnh phúc sẽ tạo nên một thế giới hòa đồng, nhân ái, hòa bình, ổn định – là điều mà mọi người trong mọi xã hội, mọi thời đại đều mong muốn được thực hiện, được thụ hưởng. Trong đời sống văn hóa Việt Nam, Phật giáo đã hòa nhập trong cộng đồng xã hội, các thiền sư Không Lộ, Tuệ Tĩnh, Vạn Hạnh hết lòng phò vua giúp nước, xây dựng xã tắc vững bền vì bách tính. Với bề dày lịch sử truyền giáo, Phật giáo đã hội nhập và đồng hành như một yếu tố không thể thiếu trong đời sống và nhận thức của người dân Việt Nam.

5. Sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo tới sự hình thành, phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam

Với lịch sử hơn 2.000 năm Phật giáo Việt Nam cũng đã chứng minh những đóng góp quan trọng vào công cuộc dựng nước, giữ nước và bảo vệ Tổ quốc của Phật giáo. Qua nhiều triều đại phong kiến, nhiều vua/quan là Phật tử đã vận dụng những tinh hoa trong tư tưởng, triết lý của đạo Phật phục vụ cho công cuộc chấn hưng đất nước. Cùng với tinh thần tự chủ, độc lập, anh dũng của dân tộc, các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đã khẳng định tinh thần gắn liền đạo pháp với dân tộc của Phật giáo.

Sau khi du nhập, Phật giáo đã ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng ở Việt Nam. Những giá trị hợp lý của tư tưởng Phật giáo tại nước ta: Một là, sự hòa nhập của tinh thần từ bi, hỷ xả với tinh thần yêu nước Việt Nam. Hai là, ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong quan hệ ứng xử, giao tiếp. Ba là, ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong sự công bằng, bình đẳng. Bốn là, ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo về tính trung thực. Năm là, ảnh hưởng trong tính thiện, tình nghĩa và tình thương. Sáu là, hưởng trong tấm lòng bao dung rộng lớn. Bảy là, ảnh hưởng trong tinh thần tự lực, tự chủ của mỗi người.

Bên cạnh những tác động tích cực, Phật giáo cũng có những tác động tiêu cực không nhỏ tới hệ thống tư tưởng về đời sống của người Việt Nam. Với cách nhìn cuộc đời là bể khổ không bờ bến, thoát khổ bằng tu tâm, dưỡng tính để diệt trừ vô minh đạt giác ngộ, Phật giáo đưa lại quan niệm sống bi quan, yếm thế, coi cuộc đời chỉ là phù hoa, thoảng qua, là sống gửi, thác về. Nhìn cuộc đời một cách bi quan, thụ động nên không ít người Việt dễ chùn bước khi gặp khó khăn, sống buông trôi cho qua ngày, đoạn tháng với niềm tin chỉ lo tu tâm, dưỡng tính là đủ.