1. Khái niệm tội chống phá cơ sở giam giữ

Chống phá cơ sở giam giữ được thể hiện bằng các hành vi phá trại giam, tổ chức vượt trại giam, đánh tháo người bị giam, người bị dẫn giải hoặc trốn trại giam với mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân.
Tội danh này thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định lần đầu tiên tại Bộ luật hình sự 1985. Đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội, chế độ Nhà nước, xâm hại sự tồn tại, sự vững mạnh của chính quyền nhân dân.
Tội chống phá cơ sở giam giữ nói riêng, các tội phạm khác nói chung trong nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia có tỷ lệ phạm tội rất cao. Chính vì tính chất đặc biệt nguy hiểm mà bộ luật hình sự quy định hình phạt áp dụng đối với nhóm tội danh này rất nghiêm khắc.
Người chống phá cơ sở giam giữ là người nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá cơ sở giam giữ, tổ chức trốn khỏi cơ sở giam giữ, đánh tháo người bị giam giữ, người bị áp giải hoặc trốn khỏi cơ sở giam giữ
Chống phá cơ sở giam giữ được hiểu là hành vi phá cơ ở giam giữ, tổ chức trốn khỏi cơ sở giam giữ, đánh tháo người bị giam giữ, người bị áp giải hoạc trốn khỏi cơ sở giam giữ với mục đích chống phá chính quyền nhân dân.

2. Tội chống phá cơ sở giam giữ theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017?

Điều 119. Tội chống phá cơ sở giam giữ
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dãn mà phá CO' sở giam giữ, tổ chức tron khỏi cơ sở giam giữ, đánh tháo người bị giam giữ, người bị áp giải hoặc tron khỏi cơ sở giam giữ, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
3. Bình luân
Điều luật gồm 3 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội chống phá cơ sở giam giữ; khoản 2 quy định khung hình phạt giảm nhẹ cho trường hợp ít nghiêm trọng và khoản 3 quy định khung hình phạt cho trường họp chuẩn bị phạm tội.
1. Theo khoản 1 của điều luật, tội chống phá cơ sở giam giữ có các dấu hiệu pháp lý sau:

3.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội chống phá cơ sở giam giữ được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

3.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội chống phá cơ sở giam giữ được quy định có thể là hành vi phá cơ sở giam giữ, hành vi tổ chức trốn khỏi cơ sở giam giữ, hành vi đánh tháo ngựời bị giam giữ, người bị áp giải hoặc là hành vi trốn khỏi cơ sở giam giữ. Các hành vỉ này có dấu hiệu cụ thể như sau:

>> Xem thêm:  Công pháp quốc tế là gì ? Khái niệm công pháp quốc tế được hiểu như thế nào ?

+ về hành vỉ phá cơ sở giam giữ: Đây là hành vi phá hỏng cơ sở hạ tầng của cơ sở giam giữ bao gồm các công trình xây dựng và hệ thống phục vụ và đảm bảo an toàn của cơ sở giam giữ như buồng giam, hệ thống tường rào, hệ thống điện, nước, thiết bị an ninh V.V.. Hành vi này có thể do người đang bị giam giữ hoặc người khác thực hiện và việc thực hiện có thể công khai hoặc không công khai với các phương tiện và phương pháp bất kỳ.
+ về hành vi tổ chức trốn khỏi cơ sở giam giữ: Đây là hành vi lên kế hoạch, chỉ đạo việc chuẩn bị, việc thực hiện kế hoạch trốn khỏi cơ sở giam giữ của một hoặc một số người. Người thực hiện hành vi tổ chức có thể là người đang bị giam giữ hoặc là người khác. Trong trường hợp người tổ chức là người đang bị giam giữ, họ có thể cùng trốn với người khác hoặc không.
+ về hành vi đánh tháo người bị giam giữ, người bị áp giải: Đây là hành vi dùng vũ lực tấn công lực lượng bảo vệ, canh giữ để giải thoát người đang bị giam giữ hoặc người đang bị áp giải.
+ về hành vi tron khỏi cơ sở giam giữ: Đây là hành vi của người đang bị giam giữ. Người bị giam giữ thực hiện hành vi này có thể theo kế hoạch của việc tổ chức trốn khỏi cơ sở giam giữ hoặc của việc đánh tháo hoặc có thể theo kế hoạch của riêng cá nhân.
Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội chống phá cơ sở giam giữ được thể hiện ở một trong những hành vi sau đây:
Phá cơ sở giam giữ là các biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan chức năng áp dụng trên cơ sở quy định của pháp luật. Giam giữ bao gồm tạm giữ, tạm giam theo tố tụng hình sự (là các biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự quy định trong Bộ luật tổ tụng hình sự); tạm giữ người theo thủ tục hành chính (là biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính quy định trong trong Luật xử lý vi phạm hành chính) và thi hành án phạt tù (bao gồm tù có thời hạn và tù chung thân, quy định trong Luật thi hành án hình sự). Cơ sở giam giữ là nơi tổ chức việc giam giữ, để người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc người bị kết án phạt tù (phạm nhân), bao gôm tạm giam, nhà tạm giữ, buồng tạm giữ thuộc đồn biên phòng (là nơi giam giữ người theo thủ thế tổ hình sự), nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính (là nơi tạm giữ người theo thủ tục hành chính) và trại giam (là nơi giam giữ phạm nhân). Phá cơ sở giam giữ là hành vi phá hoại cơ sở vật chất của các cơ sở giam giữ nêu trên. Đây vừa là hành vi phá hoại nơi giam giữ người phạm tội hoặc người có hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc bị nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, vừa tạo điều kiện cho các đối tượng nêu trên có điều kiện thoát ra khỏi nơi giam giữ.
Tổ chức trốn khỏi cơ sở giam giữ. Tổ chức trốn khỏi cơ sở giam giữ là hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện và các điều kiện cần thiết khác để trốn khỏi nơi giam giữ cũng như lên kế hoạch, liên hệ, móc nối, tập hợp những người đang bị giam giữ đưa họ thoát ra khỏi cơ sở giam giữ
Đánh tháo người bị giam giữ, người bị áp giải. Đánh tháo người bị giam giữ, người bị áp giải là hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác giải thoát cho người bị giam giữ, người bị áp giải.
Trốn khỏi cơ sở giam giữ. Trốn khỏi cơ sở giam giữ là hành vi của người đang bị tạm giam hoặc đang thi hành án phạt tù lợi dụng sơ hở trong việc quản lý, dẫn giải để trốn khỏi cơ sở giam giữ.
Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong những hành vi nêu trên.
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này có thể là người bị giam giữ (đối với hành vi trốn khỏi nơi giam giữ) hoặc, bất kỳ người nào đủ từ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
Mặt chủ quan của tội phạm: tội phạm chỉ có thể được thực hiện do lỗi có ý trực tiếp. Mục đích phạm tội là nhằm chống chính quyền nhân dân.

3.3 Mặt khách thể

của tội chống phá cơ sở giam giữ: Khách thể trực tiếp của tội chống phá cơ sở giam giữ là an ninh chính trị và an ninh xã hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cơ sở giam, giữ là nơi tạm giữ, tạm giam của người bị áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc nơi chấp hành hình phạt tù của người bị kết án phạt tù. Đối tượng bị đưa vào cơ sở tạm giữ, tạm giam là những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc bị nghi là có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà theo quy định của pháp luật phải bị cách ly hoặc tạm thời bị cách ly ra khỏi môi trường xã hội để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc đề giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội.
Các hành vi như phá cơ sở giam giữ, tổ chức trốn khỏi cơ sở giam giữ, đánh tháo người bị giam giữ, người bị áp giải hoặc trốn khỏi cơ sở giam giữ nhằm chống chính quyền nhân dân xâm phạm nghiêm trọng an ninh trật tự, không những cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự của các cơ quan chức năng mà còn tạo điều kiện cho những người phạm tội đã bị kết án phạt tù hoặc người bị nghi thực hiện tội phạm đang bị giam, giữ, bị dẫn giải thoát ngoài gây rối loạn xã hội, thậm chí là tiếp tục các hành vi phạm tội chống phá chính quyền nhân dân. Do vậy, tội chống phá cơ sở giam giữ là một trong những tội phạm nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia.

3.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể và dấu hiệu mục đích phạm tội

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý. Mục đích phạm tội được quy định là mục đích chống chính quyền nhân dân. Đây là dấu hiệu cho phép phân biệt tội chống phá cơ sở giam giữ với các tội có các dấu hiệu khác tương tự như tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (Điều 386 BLHS) và tội đánh tháo người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, người đang bị áp giải, xét xử, chấp hành án phạt tù (Điều 387 BLHS).
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
2. Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt giảm nhẹ có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm được áp dụng cho người phạm tội chống phá cơ sở giam giữ trong trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là trường họp phạm tội do có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đã làm giảm đáng kể mức độ nguy hiểm của người phạm tội và hành vi phạm tội hoặc là trường hợp “người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm”. Các tình tiết giảm nhẹ ở đây có thể là: Người phạm tội đã chủ động ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải...

>> Xem thêm:  Chủ quyền lãnh thổ quốc gia và quyền tài phán của quốc gia ven biển ?

3. Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường hợp chuẩn bị phạm tội này. Quy định này là điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999, thể hiện rõ đường lối xử lý có sự phân hóa trách nhiệm hình sự một cách rõ ràng giữa trường hợp chuẩn bị phạm tội và trường hợp tội phạm hoàn thành ở tội chống phá cơ sở giam giữ.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  An ninh quốc gia là gì ? Phân tích dấu hiệu pháp lý tội xâm phạm an ninh quốc gia ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Cải tạo không giam giữ khi nào?

Trả lời:

Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

Câu hỏi: khái niệm trục xuất là gì?

Trả lời:

Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Câu hỏi: Khái niệm tù chung thân

Trả lời:

Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.