1. Cách làm bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích

Để viết được một bài văn thật hay khi đóng vai nhân vật kể lại truyện cổ tích, các bạn có thể làm theo những bước sau đây:

 

1.1. Chọn truyện và nhân vật yêu thích

Trước tiên, hãy nghĩ đến một truyện cổ tích mà bạn biết rõ, ví dụ như Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa… Sau đó chọn một nhân vật để nhập vai.

  • Nếu chọn Tấm, bạn sẽ kể bằng giọng nhẹ nhàng, hiền lành nhưng kiên cường.
  • Nếu chọn Cám, giọng kể sẽ có phần đố kỵ, ích kỷ, và sau cùng là thất bại.
  • Nếu chọn Ông Bụt, hãy dùng giọng từ tốn, hiền hậu như đang khuyên nhủ.

Việc chọn nhân vật sẽ quyết định giọng văn và góc nhìn của cả bài viết, nên các bạn nhớ chọn nhân vật mình thấy thú vị nhất nhé!

 

1.2. Kể lại câu chuyện kèm cảm xúc

Khi kể lại, các bạn nên theo đúng trình tự của truyện, nhưng đừng chỉ “thuật lại” đơn thuần. Hãy nhập vai và viết ra cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật lúc đó.

  • Mở bài: Giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh của mình.
  • Thân bài: Kể những sự kiện chính, xen kẽ cảm xúc. Ví dụ Tấm buồn thế nào khi bị Cám lừa, vui thế nào khi gặp Bụt.
  • Kết bài: Chia sẻ suy nghĩ, bài học mà nhân vật rút ra được.

Như vậy, bài văn sẽ trở nên chân thực và lôi cuốn hơn.

 

1.3. Chọn cách xưng hô phù hợp

  • Nếu là Tấm, bạn có thể xưng “em” hoặc “tôi” để thể hiện sự hiền lành, dễ gần.
  • Nếu là Cám, có thể xưng “tôi” hoặc “chị” với giọng đố kỵ, gắt gỏng.
  • Nếu là Ông Bụt, xưng “ta” hoặc “lão” sẽ tạo cảm giác bao dung, từng trải.

 

1.4. Viết nháp và chỉnh sửa

Khi viết xong, các bạn nhớ đọc lại, sửa lỗi chính tả, và xem thử câu văn đã mượt chưa. Đừng quên thêm những chi tiết miêu tả tâm trạng, cảnh vật để bài văn sống động hơn.

Bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích lớp 6

 

2. Những bài văn mẫu đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích lớp 6

2.1. Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích - Thạch Sanh

Tôi là Thạch Sanh, con trai của Ngọc Hoàng được phái xuống trần trong hình hài một đứa bé nông dân. Cha mất từ khi tôi còn đỏ hỏn, vài năm sau mẹ cũng theo cha về trời, để lại tôi bơ vơ sống dưới gốc đa cùng duy nhất một báu vật – chiếc rìu của cha. Cũng từ đó, thiên thần đã dạy cho tôi võ nghệ để tôi có sức mạnh chống lại cái ác.

Một ngày nọ, khi đang ngồi dưới gốc đa, tôi gặp một người đàn ông tên là Lí Thông, làm nghề bán rượu. Thấy tôi côi cút, anh ta ngỏ lời kết nghĩa huynh đệ. Khát khao tình thân, tôi liền nhận lời và dọn về ở cùng mẹ con anh. Từ đó, tôi ngày ngày vào rừng kiếm củi, còn anh thì đi bán rượu. Tôi cũng chẳng quản khó nhọc mà giúp đỡ việc nhà.

Một buổi tối, Lí Thông rủ tôi uống rượu rồi nhờ tôi đi canh miếu thay mình. Tin tưởng anh, tôi lập tức nhận lời. Đêm ấy, khi đang chợp mắt, bỗng một con chằn tinh khổng lồ xuất hiện, định ăn thịt tôi. Không chút sợ hãi, tôi vung rìu chiến đấu và chỉ sau vài nhát chém, con quái vật đã gục ngã, hiện nguyên hình là một con trăn khổng lồ. Tôi chặt đầu nó đem về báo tin. Thế nhưng, thay vì vui mừng, Lí Thông lại bảo đó là vật nuôi của nhà vua và khuyên tôi nên lánh đi. Nghe lời, tôi lặng lẽ quay về gốc đa.

Ít lâu sau, khi đang ở dưới gốc đa, tôi thấy một con đại bàng to lớn bắt đi một cô gái. Tôi liền giương cung bắn, theo vết máu lần đến hang của nó. Chẳng bao lâu, dân làng mở hội, tôi tình cờ gặp lại Lí Thông. Anh ta kể rằng công chúa bị đại bàng bắt và rủ tôi đi cứu. Tôi xung phong xuống hang, một mình giao đấu, cuối cùng giải thoát được công chúa. Nhưng khi chưa kịp trở ra, Lí Thông đã nhẫn tâm ra lệnh lấp cửa hang, bỏ mặc tôi bên trong.

Lang thang trong hang tối, tôi gặp một chàng trai bị giam trong cũi sắt. Tôi dùng cung tên phá cũi giải thoát cho chàng, mới hay đó là con trai vua Thủy Tề. Được mời xuống Thủy cung, tôi được đãi tiếp nồng hậu và tặng một cây đàn thần.

Trở về, tôi bị lính bắt giam vì tội oan. Trong ngục, tôi cất tiếng đàn, âm thanh vang vọng đến tận cung điện. Nhà vua nghe tiếng đàn đã cho vời tôi đến, công chúa cũng xác nhận tôi là ân nhân. Mọi chuyện sáng tỏ, Lí Thông hiện nguyên mặt phản bội. Vua giao tôi quyền định đoạt. Nghĩ tình huynh đệ ngày trước, tôi tha cho hắn về quê.

Sau đó, tôi được gả cho công chúa. Trong ngày cưới, các nước chư hầu từng bị công chúa từ hôn đem quân sang xâm lược. Tôi chỉ cầm đàn gảy vài khúc, tiếng đàn vang lên khiến quân sĩ rệu rã, buông vũ khí đầu hàng. Tôi còn cho họ ăn cơm từ niêu cơm thần nhỏ bé, ăn mãi không hết, khiến họ tâm phục khẩu phục, rút quân về.

Về sau, nhà vua băng hà, không có con trai nối dõi, đã truyền ngôi cho tôi. Từ một chàng trai sống dưới gốc đa, tôi trở thành vị vua đem lại thái bình cho muôn dân.

 

2.2. Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích - Đóng vai người em trong truyện Cây khế

Tôi là người em trong câu chuyện. Sau khi cha mẹ mất, tôi và anh trai ở cùng nhau. Ban đầu, anh em tôi chăm chỉ làm lụng, cuộc sống tuy chẳng dư dả nhưng cũng đủ đầy. Nhưng từ khi anh lấy vợ, anh dần trở nên lười biếng, để mặc tôi và vợ quần quật làm việc để nuôi sống cả nhà.

Một ngày kia, anh gọi tôi ra chia gia tài. Tôi vốn là phận em, nên chỉ biết gật đầu nghe theo. Phần tôi nhận được chỉ là một túp lều nhỏ cùng một cây khế mọc trước sân. Tuy ít ỏi, nhưng tôi và vợ vẫn vui vẻ, ngày ngày chăm sóc cây, rồi cùng nhau ra chợ bán những quả khế chín vàng.

Đến mùa, chim lạ ở đâu bay về đậu trên cây ăn khế. Con chim to lớn, lông óng ánh, mỗi ngày lại đến ăn mấy quả. Vợ tôi xót của, liền than thở với chim:
– Ông chim ơi, cả nhà tôi chỉ sống nhờ vào cây khế, ông ăn hết thì chúng tôi biết lấy gì mà sinh sống?

Lạ thay, con chim cất tiếng đáp:
Ăn một quả, trả một cục vàng; may túi ba gang, mang đi mà đựng.

Nghe thế, tôi hiểu ngay đây không phải loài chim thường. Tôi làm theo lời chim dặn, may một chiếc túi vừa đúng ba gang. Hôm sau, chim đến chở tôi vượt đồng ruộng, rừng xanh, bay qua biển cả mênh mông đến một hòn đảo đầy châu báu. Trước cảnh vàng bạc sáng lóa, tôi chỉ nhặt vừa đủ bỏ vào túi rồi xin chim trở về. Nhờ số vàng ấy, cuộc sống gia đình tôi khấm khá hơn, lại còn có thể giúp đỡ người nghèo khó trong làng.

Chuyện đến tai anh trai. Anh năn nỉ xin đổi phần gia tài lấy cây khế. Thấy anh tha thiết, tôi cũng đồng ý. Anh và chị dâu dọn về túp lều, ngày ngày chờ chim đến ăn khế. Khi chim thần xuất hiện, anh cũng van xin và được nghe lời hứa y như tôi. Nhưng khác ở chỗ, anh không may túi ba gang, mà tham lam may hẳn một túi khổng lồ.

Hôm sau, chim lại đưa anh ra đảo. Thấy vàng bạc sáng lóa, anh hốt vơ cho đầy túi, còn nhét cả vào quần áo. Trên đường về, túi quá nặng, chim đuối sức, lảo đảo rồi rơi xuống biển. Anh trai tôi bị sóng cuốn đi, vàng bạc cũng mất sạch. May nhờ người đánh cá cứu, anh mới thoát chết. Khi trở về, anh nghẹn ngào kể lại mọi chuyện, trong lòng tràn đầy hối hận.

Kể đến đây, tôi chỉ mong rằng anh trai mình sẽ hiểu ra: tham lam chỉ dẫn đến mất mát, còn biết đủ, biết sẻ chia mới đem lại hạnh phúc thật sự.

 

2.3. Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích - Đóng vai Sọ dừa

Tôi là Sọ Dừa. Ngày tôi chào đời, thân thể chẳng giống ai, tròn lông lốc như quả dừa, không tay, không chân. Mẹ tôi buồn tủi vô cùng, định bỏ tôi đi, nhưng tôi đã cất tiếng van nài:

- Mẹ ơi! Con là người thật mà, xin mẹ đừng bỏ con.

Nghe vậy, mẹ tôi động lòng thương, quyết giữ tôi lại nuôi và đặt tên cho tôi là Sọ Dừa. Lớn lên, thân hình tôi vẫn kì dị, chỉ lăn lông lốc khắp nơi. Thấy vậy, mẹ than phiền rằng tôi vô dụng, chẳng làm được gì. Nhưng tôi quả quyết:

- Con chăn bò được, mẹ xin phú ông cho con đi thử.

Thế là tôi đến nhà phú ông. Hằng ngày, tôi lăn theo đàn bò ra đồng, tối lại lăn về, chăm lo từng chút. Bầy bò béo tốt trông thấy, phú ông vui mừng lắm. Mùa gặt, ba cô con gái thay phiên nhau mang cơm cho tôi. Hai cô chị khinh ghét, thường mắng nhiếc; chỉ có cô út dịu dàng, thương xót và chăm lo cho tôi.

Một hôm, khi ở đồng, tôi hóa thành chàng trai tuấn tú, ngồi thổi sáo trên lưng trâu. Cô út tình cờ trông thấy, nhưng tôi vội biến lại hình dạng cũ. Từ đó, nàng càng thương và kín đáo dành phần cơm ngon cho tôi.

Cuối mùa, tôi giục mẹ sang nhà phú ông hỏi cưới. Phú ông thách cưới sính lễ thật lớn: vàng bạc, lụa là, lợn béo, rượu ngon. Mẹ lo lắng, nhưng tôi đã chuẩn bị sẵn đầy đủ, lại có gia nhân giúp rước lễ sang. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, chỉ cô út đồng ý kết duyên cùng tôi.

Trong ngày cưới, tôi hiện nguyên hình một chàng trai khôi ngô. Cô út hạnh phúc bước lên kiệu hoa về nhà chồng. Từ đó, chúng tôi sống trong ấm êm. Tôi chăm chỉ học hành và đỗ trạng nguyên, được nhà vua trọng dụng.

Ngày tôi đi sứ, tôi trao cho vợ con dao, hòn đá lửa và hai quả trứng gà, dặn phải giữ lấy. Nhờ những vật ấy, nàng đã thoát khỏi hiểm nguy khi bị hai chị hãm hại, và cuối cùng vợ chồng tôi đoàn tụ nơi thuyền rồng, vui mừng khôn xiết.

Bây giờ nhớ lại, tôi càng thấm thía: ở hiền thì gặp lành, và tình yêu chân thành mới là báu vật quý giá nhất đời.

 

2.4. Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích - Đóng vai nhân vật Vua Chích choè

Ta là Vua Chích Chòe. Chuyện xảy ra từ buổi yến tiệc năm ấy, khi vua cha của công chúa mở hội kén rể. Ta cũng có mặt, đường đường là một vị quốc vương láng giềng. Nhưng thật đau thay, công chúa đã không nể nang mà buông lời chế giễu chiếc cằm của ta giống mỏ chim chích chòe. Từ đó, thiên hạ gọi ta bằng cái tên ấy. Trong lòng ta vừa phẫn uất vừa quyết chí: phải trị cho nàng bỏ thói kiêu ngạo.

Ít lâu sau, ta cải trang thành một gã hát rong nghèo khổ. Nhờ khúc ca ta cất lên trước cổng cung điện, nhà vua giữ lời thề, gả công chúa cho ta. Nàng khóc lóc van xin nhưng vô ích. Từ một công chúa cao sang, nàng buộc phải theo chân ta về túp lều tồi tàn.

Trên đường đi, nàng nhìn thấy rừng xanh, thảo nguyên, thành phố nguy nga đều thuộc về ta, nhưng nàng nào hay biết. Nàng chỉ biết thở than: “Đáng lẽ ta nên lấy Vua Chích Chòe.” Ta nghe mà vừa buồn vừa trách. Đến khi vào lều nhỏ, nàng mới thấm cảnh thiếu thốn. Ta bắt nàng nấu cơm, dệt vải, đan sọt, thậm chí đem nồi niêu ra chợ bán… nhưng việc gì nàng cũng vụng về, tay chảy máu, hàng hóa đổ vỡ. Nhìn nàng loay hoay trong nước mắt, ta xót xa lắm, song vẫn gắng để nàng học được bài học làm người.

Cuối cùng, nàng phải vào bếp cung vua làm người phụ việc. Nàng dần trở nên khiêm nhường, chịu khó lao động, không còn kênh kiệu như xưa. Thấy nàng đã thay đổi, ta mới bày tiệc lớn, đích thân đưa nàng ra giữa sảnh đường. Khi nàng xấu hổ vì làm rơi nồi niêu, ta liền nắm tay và hé lộ: “Người hát rong kia chính là ta, Vua Chích Chòe.”

Nàng òa khóc, xin tha thứ cho những lỗi lầm. Ta chỉ mỉm cười: “Em đã học được điều quý giá nhất – đó là biết yêu thương và khiêm nhường. Những ngày cay đắng đã qua, giờ hãy cùng ta bắt đầu cuộc sống mới.”

Đám cưới linh đình được tổ chức. Lúc ấy, ta mới thấy hạnh phúc thật sự: không phải vì trị được tính kiêu ngạo, mà vì có được một người vợ đã biết sống chân thành.

 

2.5. Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích - Đóng vai nhân vật em bé thông minh

Tôi là Em bé thông minh trong câu chuyện xưa.

Hôm ấy, giữa trưa nắng, tôi cùng cha đang cày ruộng thì có một vị quan cưỡi ngựa đi ngang qua. Quan nhìn con trâu rồi hỏi cha tôi:

- Ông kia, trâu một ngày cày được bao nhiêu đường?

Cha lúng túng, chưa biết trả lời sao. Tôi nghĩ thầm, đây hẳn là câu hỏi đánh đố. Tôi liền hỏi lại:

-Thưa quan, vậy con ngựa của ngài một ngày đi được bao nhiêu bước? Ngài trả lời được, thì con sẽ nói trâu một ngày cày bao nhiêu đường.

Quan nghe xong thì cứng lưỡi, không đáp được, chỉ còn cách hỏi tên tuổi hai cha con tôi rồi đi.

Ít lâu sau, làng tôi nhận được chiếu chỉ của vua: “Ban ba thúng gạo nếp và ba con trâu đực, sang năm phải nuôi cho chúng đẻ ra chín con, thiếu thì chịu tội.” Làng rối bời, ai cũng lo sợ. Tôi nghĩ ra một kế liền bảo cha:

- Cha cứ nói với dân làng lấy gạo và trâu mà ăn đi, còn lại cha con ta lên kinh tâu vua.

Đến kinh thành, tôi giả vờ khóc lóc thật to. Vua nghe thấy cho gọi vào hỏi chuyện. Tôi thưa:

- Cha con không chịu đẻ em bé cho con chơi, con buồn lắm, xin vua bắt cha con phải đẻ em bé đi!

Cả triều đình cười ầm. Vua mỉm cười bảo:

- Đàn ông sao mà đẻ được?

Tôi liền đáp ngay:

- Thế sao vua lại bắt trâu đực của làng con đẻ?

Vua sững người, rồi bật cười lớn, khen tôi lanh trí. Từ đó, vua nhiều lần thử thách tôi. Có lần, vua sai mang con chim sẻ bắt dọn ba mâm cỗ. Tôi liền bảo lính đưa cho tôi cây kim để nhờ vua rèn thành dao xẻ thịt chim. Lần khác, vua sai xuyên sợi chỉ qua vỏ ốc dài. Tôi bèn bắt con kiến buộc chỉ vào bụng, lấy giấy bít một đầu, bôi mỡ ở đầu kia. Kiến ngửi thấy mỡ, men theo ống ốc mà kéo sợi chỉ xuyên qua.

Nhờ những lần ứng đối ấy, vua càng tin tưởng. Sau này, tôi được nhà vua cho đi học hành và thi đỗ trạng nguyên. Lớn lên, tôi còn góp công giúp đất nước chống giặc ngoại xâm.

Ngẫm lại, tôi hiểu rằng sự nhanh trí không chỉ cứu cha con tôi, cứu cả làng mà còn giúp ích cho dân cho nước.

 

2.6. Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích - Đóng vai Sơn Tinh

Ta là Sơn Tinh, chúa tể vùng núi Tản Viên hùng vĩ. Từ nhỏ ta đã mang sức mạnh phi thường: dời non lấp bể, dựng núi cao sừng sững. Người dân quanh vùng đều yêu mến và kính trọng ta.

Ngày ấy, khi nghe tin vua Hùng mở hội kén rể cho công chúa Mị Nương xinh đẹp, hiền hậu, lòng ta rộn ràng niềm vui. Ta quyết định tham gia, mong được nên duyên cùng nàng. Trong buổi kén rể, nhiều chàng trai tài giỏi tụ hội, nhưng người khiến ta nể nhất chính là Thủy Tinh – chúa tể biển cả, có phép hô mưa gọi gió. Cả hai chúng ta đều ngang tài ngang sức, khiến vua Hùng khó lòng lựa chọn.

Cuối cùng, nhà vua đưa ra thử thách: ai đem sính lễ gồm voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, cùng một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng đến trước sẽ được cưới công chúa. Không chần chừ, ta lập tức đi tìm sính lễ. Nhờ sự giúp sức của dân làng miền núi, ta nhanh chóng hoàn thành và sáng sớm hôm sau đã dâng đủ lễ vật lên vua. Hạnh phúc biết bao, ta được cưới Mị Nương và cùng nàng trở về núi Tản Viên.

Nhưng chẳng được bao lâu, Thủy Tinh đem quân lính, nổi mưa to gió lớn, dâng nước lên cao hòng cướp lại nàng. Đất trời cuồn cuộn, sóng nước ngập tràn. Ta không hề nao núng: nước dâng đến đâu, ta nâng núi cao đến đó. Ta dựng thành đắp lũy, chắn ngang sức mạnh dữ dội của Thủy Tinh. Trận chiến kéo dài nhiều ngày, cuối cùng ta vẫn giành chiến thắng, bảo vệ được Mị Nương và muôn dân.

Từ đó về sau, năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước lên trả thù, nhưng hắn chưa bao giờ thắng nổi. Còn ta, Sơn Tinh, vẫn cùng Mị Nương sống hạnh phúc nơi núi Tản, được người dân yêu mến và nhớ mãi câu chuyện về sức mạnh đoàn kết, ý chí kiên cường của con người trước thiên tai.

 

2.7. Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích - Đóng vai nhân vật Tấm

Tôi là Tấm – nay đã là vợ của vua, sống cuộc đời hạnh phúc, an yên trong cung. Nhưng để có được ngày hôm nay, tôi đã trải qua biết bao nhiêu cay đắng và tủi cực.

Từ nhỏ, tôi đã sớm mất cha mẹ, phải ở cùng dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ là Cám. Hai mẹ con họ lúc nào cũng bắt tôi làm việc nặng nhọc, còn mình thì ung dung sung sướng. Tôi chỉ biết lặng lẽ chịu đựng, mong một ngày nào đó hạnh phúc sẽ mỉm cười.

Nhớ mãi lần kia, dì ghẻ bảo ai bắt được nhiều tép sẽ được thưởng một chiếc yếm đào. Tôi miệt mài bắt được cả giỏ đầy, nhưng bị Cám lừa cướp mất. Tôi chỉ biết khóc. May thay, ông Bụt hiện lên, chỉ cho tôi nuôi chú cá bống làm bạn. Nhưng rồi cá bống cũng bị mẹ con Cám hãm hại. Mỗi lần khóc, ông Bụt đều đến giúp tôi, khiến tôi có thêm nghị lực mà bước tiếp.

Rồi ngày hội lớn của nhà vua đến. Dì ghẻ bắt tôi ở nhà nhặt thóc, may nhờ Bụt và đàn chim sẻ, tôi mới kịp đi. Ông còn ban cho tôi bộ váy đẹp và đôi hài quý. Chính chiếc hài ấy đã đưa tôi đến bên vua, trở thành hoàng hậu. Tôi tưởng rằng từ đó cuộc đời mình sẽ trọn vẹn, nhưng mẹ con Cám vẫn chưa thôi ác độc.

Họ hãm hại tôi hết lần này đến lần khác: khi thì chặt cây giết tôi, khi thì giết chim vàng anh, chặt cây xoan, đốt khung cửi… Nhưng mỗi lần, tôi lại hóa thân thành hình dáng khác: lúc là chim, lúc là cây, lúc là quả thị. Bằng sự kiên nhẫn, hiền lành và nhờ ơn trời đất, tôi cuối cùng cũng được sống lại trong hình hài con người, đoàn tụ cùng nhà vua.

Nhìn lại chặng đường đã qua, tôi thấm thía rằng: ở hiền thì gặp lành, kẻ ác rồi cũng sẽ bị trừng phạt. Tôi tin rằng lòng nhân hậu, sự chăm chỉ và niềm tin vào điều thiện chính là sức mạnh giúp tôi đi qua giông bão để đến được hạnh phúc hôm nay.

 

2.8. Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích - Đóng vai nhân vật người con rể trong truyện cây tre trăm đốt

Tôi chính là chàng rể trong câu chuyện Cây tre trăm đốt. Trước kia, tôi vốn chỉ là một anh nông dân nghèo, ngày ngày làm thuê cho nhà Phú Ông. Vì nghèo khó, tôi chỉ mong có công việc để đổi lấy miếng ăn qua ngày.

Một hôm, Phú Ông thấy tôi làm việc chăm chỉ, siêng năng, bèn hứa:
– Nếu anh chịu làm thuê cho ta ba năm không lấy công, ta sẽ gả con gái cho anh.
Nghe vậy, tôi mừng khôn xiết, gật đầu ngay.

Thế là suốt ba năm ròng, tôi cày sâu cuốc bẫm, dậy sớm thức khuya lo cho ruộng đồng, trâu bò nhà Phú Ông. Ngày hẹn đã tới, tôi tràn đầy hy vọng được cưới cô con gái xinh đẹp, hiền lành của ông. Nào ngờ, Phú Ông lại tráo trở, sai tôi vào rừng tìm một cây tre trăm đốt làm sính lễ. Biết rõ trên đời nào có cây tre như thế, nhưng vì thật thà, tôi vẫn vác rìu đi khắp nơi. Dù tìm bao nhiêu rừng tre, tôi cũng chẳng thấy nổi cây nào đủ trăm đốt. Tôi tuyệt vọng ngồi xuống khóc, thì may thay, ông Bụt hiện lên, trao cho tôi câu thần chú “Khắc nhập, khắc xuất” để nối liền trăm đốt tre rời rạc thành một cây tre dài.

Mừng rỡ, tôi vội vàng đem cây tre trăm đốt về nhà. Thế nhưng cảnh tượng trước mắt khiến tôi chết lặng: Phú Ông đang làm lễ gả con gái cho con trai một phú hộ khác! Tức giận, tôi niệm thần chú, gắn chặt Phú Ông vào thân tre, rồi cả chàng rể giả kia cũng bị dính theo. Mọi người cười ầm lên, chẳng ai dám đến gỡ. Chỉ đến khi Phú Ông hoảng hốt van xin, hứa giữ lời như thuở ban đầu, tôi mới niệm “Khắc xuất” để thả ông ra.

Đám cưới của tôi và con gái Phú Ông diễn ra ngay sau đó. Từ ngày thành con rể, tôi càng làm việc chăm chỉ hơn, vun vén cho gia đình. Cuối cùng, Phú Ông cũng nhận ra tấm lòng của tôi, thương tôi thật sự như con ruột.

Câu chuyện đời tôi chính là minh chứng rằng: kẻ gian dối rồi sẽ phải trả giá, còn người thật thà, chăm chỉ sẽ được hạnh phúc bền lâu.

 

3. Mục tiêu chung môn Ngữ Văn trong Chương trình GDPT 2018

Theo quy định tại Phụ lục ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT về Chương trình giáo dục phổ thông, môn Ngữ Văn được xác định với những mục tiêu chung sau:

  • Góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất cốt lõi như: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm; đồng thời nuôi dưỡng tâm hồn, xây dựng nhân cách và cá tính riêng.
  • Thông qua việc học tập Ngữ Văn, học sinh có cơ hội khám phá bản thân và thế giới, biết trân trọng con người, nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú, xây dựng cách sống và ứng xử nhân văn; hình thành tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; ý thức được cội nguồn, bản sắc dân tộc, qua đó giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá Việt Nam, đồng thời có tinh thần tiếp nhận những tinh hoa văn hoá nhân loại để sẵn sàng hội nhập quốc tế.
  • Môn học còn góp phần phát triển những năng lực chung của học sinh như: tự chủ, tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo.
  • Đặc biệt, Ngữ Văn chú trọng phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học: rèn luyện bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; trang bị kiến thức cơ bản về tiếng Việt và văn học; bồi dưỡng tư duy hình tượng, tư duy logic; hình thành nền tảng học vấn của người có văn hoá; rèn luyện khả năng tạo lập các văn bản thông dụng; biết tiếp nhận, phân tích và đánh giá văn bản văn học cũng như các sản phẩm giao tiếp và giá trị thẩm mỹ trong đời sống.