Thưa luật sư, xin luật sư cho biết, pháp luật hiện hành quy định như thế nào về Ban lãnh đạo, thành viên và điều lệ của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp? Rất mong nhận được tư vấn từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Thương Huế - TP.HCM

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2019

2. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là gì?

Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Mẫu báo cáo tình hình sử dụng lao động người nước ngoài cho doanh nghiệp mới nhất

3. Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp là gì?

Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp là một trong hai loại tổ chức đại diện của người lao động tại cơ sở. Tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một doanh nghiệp nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động.

4. Ban lãnh đạo và thành viên tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp

Điều 173 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về Ban lãnh đạo và thành viên tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp như sau:

1. Tại thời điểm đăng ký, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải có số lượng tối thiểu thành viên là người lao động làm việc tại doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ.

2. Ban lãnh đạo do thành viên của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp bầu. Thành viên ban lãnh đạo là người lao động Việt Nam đang làm việc tại doanh nghiệp; không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích do phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Ban lãnh đạo và thành viên tổ chức của người lao động là một trong những quy định mới quan trọng của Bộ luật lao động năm 2019. Đối với những quốc gia có quy định về điều kiện để một tổ chức đại diện người lao động hay công đoàn được đăng ký thì điều kiện về số lượng thành viên tối thiểu, điều kiện đối với người đứng đầu và thành viên ban lãnh đạo thường là một trong những điều kiện được pháp luật quy định.

Quy định về số lượng thành viên tối thiểu để tổ chức của người lao động được cấp đăng ký là một trong những quyết định quan trọng và nhạy cảm trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do liên kết của người lao động. Việc quy định số lượng tối thiểu này quá cao sẽ dẫn đến hạn chế quyền thành lập, gia nhập tổ chức của người lao động. Theo tiêu chuẩn của ILO về tự do liên kết: “Các yêu cầu về số lượng đoàn viên tối thiểu, bản thân nó, là không trái với Công ước số 87, song con số tối thiểu cụ thể phải được ấn định một cách hợp lý sao cho việc thành lập các tổ chức không bị cản trở. Việc xác định con số cụ thể nào là hợp lý có thể khác nhau ở mỗi nơi, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà ở đó sự giới hạn được đưa ra”. Điều này không có nghĩa là các quốc gia hoàn toàn có quyền dựa vào điều kiện cụ thể của mình để quy định về số lượng thành viên tối thiểu để tổ chức của người lao động được đăng ký. Ở một nước mà đa số các doanh nghiệp là các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ thì quy định của pháp luật về số lượng thành viên tối thiểu để được thành lập tổ chức của người lao động phải thấp để bảo đảm quyền tự do liên kết của những người lao động làm việc ở những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Số lượng tối thiểu này thường được quy định là con số tuyệt đối chứ không phải con số tương đối là tỷ lệ trên tổng số lao động của doanh nghiệp hay địa bàn và tổ chức của người lao động được thành lập.

Theo ILO, “yêu cầu tối thiểu phải có đoàn viên chiếm 30% người lao động của đơn vị tương ứng để thành lập một công đoàn là quá cao”. “Các điều khoản quy định yêu cầu phải có đoàn viên chiếm 30% tổng số người lao động của đơn vị sử dụng lao động để có thể đăng ký công đoàn, và cho phép giải thể công đoàn nếu số lượng đoàn viên giảm xuống thấp hơn mức tối thiểu đó, là trái với điều 2 của Công ước số 87”. “Yêu cầu của pháp luật phải có tối thiểu 20 đoàn viên để thành lập một công đoàn không phải là một yêu cầu quá đáng, và do đó, bản thân nó không tạo nên sự cản trở đối với việc thành lập công đoàn”.

Khoản một điều 173 Bộ luật lao động năm 2019 không quy định cụ thể tổ chức của người lao động phải có số lượng thành viên tối thiểu là bao nhiêu mới được đăng ký mà chỉ đưa ra nguyên tắc và giao Chính phủ quy định chi tiết. Ngoài việc bảo đảm phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế như đã trình bày ở trên, quy định của Chính phủ số lượng thành viên tối thiểu để tổ chức người lao động được cấp đăng ký còn phải bảo đảm sự hài hòa với quy định hiện hành về số lượng đoàn viên tối thiểu để thành lập đoàn cơ sở là 05 đoàn viên.

Khoản 2 điều 173 quy định có tính định nghĩa về ban lãnh đạo và điều kiện đối với thành viên ban lãnh đạo tổ chức của người lao động. Theo đó, ban lãnh đạo do thành viên của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp bầu. Bộ luật lao động năm 2019 không có quy định về tổ chức nội bộ của tổ chức của người lao động vì đây là vấn đề thuộc quyền tự chủ, tự quản của chính tổ chức của người lao động theo đúng tinh thần của các tiêu chuẩn quốc tế về quyền tự do liên kết. Vấn đề tổ chức nội bộ của tổ chức người lao động sẽ do chính tổ chức quyết định, xong chỉ những người do thành viên tổ chức của người lao động bầu thì mới được Bộ luật ghi nhận là thành viên của ban lãnh đạo tổ chức, những người do tổ chức chỉ định, bổ nhiệm mà không do thành viên tổ chức bầu thì không được ghi nhận là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức.

Về điều kiện, khoản 2 điều 173 Bộ luật lao động năm 2019 quy định thành viên ban lãnh đạo tổ chức của người lao động phải đáp ứng đủ ba điều kiện bao gồm: (i) là người lao động Việt Nam; (ii) là đang làm việc tại tổ chức của người lao động được thành lập; (iii) là không đang trong thời gian bị chi cứu trách nhiệm hình sự phải chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích hoặc do phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của Bộ luật hình sự.

>> Xem thêm:  Phân tích yếu tố chủ thể (các bên) khi giao kết hợp đồng lao động ?

Đây cũng là một trong những quy định mới của Bộ luật lao động năm 2019 được đánh giá là phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và quá trình chuyển đổi quan hệ lao động của Việt Nam từ một hệ thống đại diện sang đa tổ chức đại diện; đồng thời, phù hợp với các tiêu chuẩn về tự do liên kết ở mức độ chấp nhận được theo các cam kết quốc tế của Việt Nam.

5. Điều lệ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp

Điều 174 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về điều lệ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp như sau:

1. Điều lệ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, địa chỉ tổ chức; biểu tượng (nếu có);

b) Tôn chỉ, mục đích và phạm vi hoạt động là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên tổ chức mình trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp; cùng với người sử dụng lao động giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động; xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định;

c) Điều kiện, thủ tục gia nhập và ra khỏi tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

Trong một tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp không đồng thời có thành viên là người lao động thông thường và thành viên là người lao động trực tiếp tham gia vào quá trình ra quyết định liên quan đến điều kiện lao động, tuyển dụng lao động, kỷ luật lao động, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc chuyển người lao động làm công việc khác;

d) Cơ cấu tổ chức, nhiệm kỳ, người đại diện của tổ chức;

đ) Nguyên tắc tổ chức, hoạt động;

e) Thể thức thông qua quyết định của tổ chức.

Những nội dung phải do thành viên quyết định theo đa số bao gồm thông qua, sửa đổi, bổ sung điều lệ của tổ chức; bầu cử, miễn nhiệm người đứng đầu và thành viên ban lãnh đạo của tổ chức; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, đổi tên, giải thể, liên kết tổ chức; gia nhập Công đoàn Việt Nam;

g) Phí thành viên, nguồn tài sản, tài chính và việc quản lý, sử dụng tài sản, tài chính của tổ chức.

Việc thu, chi tài chính của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải được theo dõi, lưu trữ và định kỳ hằng năm công khai cho thành viên của tổ chức;

h) Kiến nghị và giải quyết kiến nghị của thành viên trong nội bộ tổ chức.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Quy định về điều lệ của tổ chức đại diện người lao động luôn luôn là một trong những nội dung quan trọng, xong cũng rất nhạy cảm về tính tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế về tự do liên kết.

Theo các tiêu chuẩn của ai lô về tự do liên kết, tổ chức của người lao động có quyền tự do, tự chủ trong việc xây dựng điều lệ của mình.

Tuy nhiên, các tiêu chuẩn lao động quốc tế cũng cho phép luật pháp có những quy định về điều lệ của tổ chức của người lao động mà không bị xem là vi phạm quyền tự do, tự chủ của tổ chức trong việc xây dựng điều lệ hoạt động nếu đó là những quy định phù hợp với nguyên tắc tự do liên kết, có mục đích nhằm bảo đảm nguyên tắc dân chủ trong tổ chức và hoạt động của tổ chức, bảo đảm quyền của thành viên tổ chức.

Có thể thấy, điều 174 Bộ luật lao động năm 2019 đã xử lý tương đối hợp lí giữa hai yêu cầu, đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản trị tổ chức của người lao động thông qua điều lệ của tổ chức, bảo đảm phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn lao động quốc tế liên quan.

Điều 174 bao gồm hai nội dung:

Loại nội dung thứ nhất là những nội dung mà điều luật chỉ đưa ra các yêu cầu về những vấn đề cần phải có trong điều lệ của tổ chức của người lao động, chứ không quy định vấn đề đó cần phải được quy định cụ thể như thế nào. Việc quy định cụ thể nội dung đó thế nào thuộc về quyền tự chủ của tổ chức của người lao động. Những nội dung này bao gồm:

+ Tên, địa chỉ tổ chức; biểu tượng (nếu có) (điểm a khoản 1)

>> Xem thêm:  Phân tích đặc trưng của quan hệ lao động ở Việt Nam ? Giải pháp phát triển quan hệ lao động

+ Cơ cấu tổ chức, nhiệm kỳ, người đại diện của tổ chức (điểm d khoản 1)

+ Nguyên tắc tổ chức, hoạt động (điểm đ khoản 1)

+ Kiến nghị và giải quyết kiến nghị của thành viên trong nội bộ tổ chức (điểm h khoản 1)

Loại nội dung thứ hai là những nội dung điều luật đưa ra yêu cầu về những vấn đề phải có trong điều lệ của tổ chức người lao động, đồng thời điều luật đưa ra một số yêu cầu cụ thể vấn đề đó phải được quy định như thế nào trong điều lệ. Điều này có nghĩa là tổ chức của người lao động vẫn có quyền tự chủ trong việc xây dựng nội dung về những vấn đề đó trong điều lệ của mình, song một số nội dung cụ thể phải bảo đảm yêu cầu theo quy định của pháp luật, tổ chức của người lao động không được có quy định khác nếu muốn được chấp nhận đăng ký. Những nội dung này bao gồm:

+ Tôn chỉ, mục đích và phạm vi hoạt động (điểm b khoản 1)

Theo quy định này, tôn chỉ, mục đích và phạm vi hoạt động của tổ chức của người lao động sẽ do chính tổ chức nhất định và phải thể hiện trong điều lệ của mình, xong tôn chỉ, mục đích đó phải là “bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên tổ chức của mình trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp; cùng với người sử dụng lao động giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động; xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định”.

Câu hỏi đặt ra là ngoài tôn chỉ, mục đích nêu trên, tổ chức của người lao động có được có những tôn chỉ mục đích khác hay không? Thực chất của quy định này là để xác định rõ, tôn chỉ, mục đích của tổ chức của người lao động, đồng thời không cho phép tổ chức của người lao động có mục đích chính trị. Pháp luật quốc gia quy định một tổ chức của người lao động thuần túy có mục đích chính trị thì sẽ không được coi là tổ chức đại diện người lao động trong quan hệ lao động, không được hưởng những quyền và sự bảo vệ của luật lao động là không trái với các tiêu chuẩn của ILO về tự do liên kết. Do đó, quy định này của Bộ luật lao động được hiểu là tổ chức của người lao động nhất thiết phải có tôn chỉ, mục đích và phạm vi hoạt động như quy định tại điểm b khoản 1 điều 174. Ngoài ra, tổ chức của người lao động cũng có thể có những tôn chỉ, mục đích khác như hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong trường hợp khó khăn; thực hiện các hoạt động xã hội, từ thiện… song trong mọi trường hợp, tổ chức của người lao động không được có mục đích chính trị.

+ Điều kiện, thủ tục gia nhập và ra khỏi tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp (điểm c khoản 1)

Quy định này được hiểu là mỗi tổ chức của người lao động có quyền đặt ra điều kiện, thủ tục để người lao động gia nhập và ra khỏi tổ chức và phải ghi rõ những nội dung này trong điều lệ của mình. Mỗi tổ chức có thể quy định riêng về nội dung này. Ví dụ: tổ chức có thể quy định chỉ tập hợp những người lao động có hợp đồng lao động từ một năm trở lên.

Tuy nhiên, dù quyết định thế nào cũng phải bảo đảm yêu cầu của pháp luật là trong một tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp không đồng thời có thành viên là người lao động thông thường và thành viên là người lao động trực tiếp tham gia vào quá trình ra quyết định liên quan đến điều kiện lao động, tuyển dụng lao động, kỷ luật lao động, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc chuyển người lao động làm công việc khác.

>> Xem thêm:  Bắt giữ người lao động trái phép có vi phạm pháp luật hay không ?

Quy định này được hiểu là những người đại diện cho lợi ích của người sử dụng lao động vẫn có quyền thành lập, gia nhập tổ chức của chính mình, nhưng không được trong cùng tổ chức của người lao động thông thường khác xong doanh nghiệp.

Mục đích quy định này của pháp luật là để bảo đảm tổ chức của người lao động không bị can thiệp, thao túng, chi phối bởi người sử dụng lao động, bảo đảm tính độc lập của tổ chức của người lao động đối với người sử dụng lao động, để từ đó tổ chức này có thể đại diện, bảo vệ một cách thực chất và hiệu quả quyền và lợi ích của người lao động trong mối quan hệ với người sử dụng lao động. Đây là một trong những yêu cầu của Công ước số 98 của ILO về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể mà Việt Nam đã gia nhập từ ngày 5/7/2019, có hiệu lực từ ngày 5/7/2020.

+ Thể thức thông qua quyết định của tổ chức (điểm e khoản 1)

Điều luật quy định đây là một nội dung bắt buộc phải có trong điều lệ của tổ chức của người lao động. Nguyên tắc chung thì thể thức thông qua quyết định của tổ chức cũng sẽ do tổ chức quyết định và thể hiện trong điều lệ tổ chức.

Tuy nhiên, đối với một số vấn đề, Bộ luật lao động quy định việc ra quyết định phải do thành viên tổ chức thực hiện theo nguyên tắc đa số. Đây là những vấn đề đặc biệt quan trọng đối với tổ chức, bao gồm: (i) thông qua, sửa đổi, bổ sung điều lệ của tổ chức; (ii) bầu cử, miễn nhiệm người đứng đầu và thành viên ban lãnh đạo của tổ chức; (iii) chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, đổi tên, giải thì phải liên kết tổ chức; (iv) là gia nhập công bằng Việt Nam.

Lý do và mục đích của quy định này là nhằm bảo vệ nguyên tắc dân chủ trong tổ chức và hoạt động của tổ chức của người lao động, bảo đảm quyền của thành viên tổ chức trong việc ra quyết định đối với những vấn đề hệ trọng của tổ chức, có ảnh hưởng lớn đối với tất cả các thành viên của tổ chức.

Điều này cũng có nghĩa là ngoài bốn nhóm vấn đề nêu trên thì đối với những nội dung khác, ví dụ như việc ra quyết định để thực hiện một hoạt động cụ thể nào đó của tổ chức, hay việc ra quyết định lựa chọn nội dung để tiến hành đối thoại hoặc thương lượng tập thể với người sử dụng lao động thì thể thức ra quyết định thế nào hoàn toàn do tổ chức tự quyết định và ghi trong điều lệ. Đối với những vấn đề này, tổ chức có thể quy định việc ra quyết định cũng như được thực hiện thông qua lấy ý kiến của thành viên hoặc giao toàn quyền cho ban lãnh đạo hoặc thậm chí giao cho người đứng đầu tổ chức quyết định.

+ Phí thành viên, nguồn tài sản, tài chính và việc quản lý, sử dụng tài sản, tài chính của tổ chức (điểm g khoản 1)

Về nguyên tắc, những nội dung về phí thành viên, nguồn tài sản, tài chính và việc quản lý, sử dụng tài sản, tài chính của tổ chức cũng là chủ đề thuộc quyền tự chủ, tự quản của tổ chức của người lao động, nên phải do chính tổ chức của người lao động quyết định. Đương nhiên, việc thực hiện quyền tự chủ, tự quản này không được vi phạm các quy định liên quan của pháp luật. Ví dụ, tổ chức của người lao động có quyền quy định về việc tài chính, tài sản của tổ chức được sử dụng vào những mục đích cụ thể nào, xong những mục đích đó phải là những mục đích không trái với các quy định của pháp luật như sử dụng để kinh doanh trái pháp luật, hoặc tài trợ cho những hoạt động bất hợp pháp.

Bộ luật lao động chỉ quy định tổ chức của người lao động, thể hiện những nội dung này trong điều lệ của mình. Đồng thời, Bộ luật lao động yêu cầu việc thu, chi tài chính của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải được theo dõi, lưu trữ và định kỳ hàng năm công khai cho thành viên của tổ chức. Mục đích của quy định này nhằm bảo đảm việc thu, quản lý, chi tiêu tài chính, tài sản của tổ chức của người lao động phải công khai, minh bạch, đúng pháp luật và quan trọng là phải có sự giám sát của tổ chức.

>> Xem thêm:  Tình hình kinh tế xã hội tác động đến quan hệ lao động như thế nào ?

Một số nội dung của khoản 1 điều 174 về điều lệ tổ chức của người lao động cần phải có những hướng dẫn cụ thể thêm nên khoản 2 điều này giao Chính phủ quy định chi tiết thi hành. Điều cần lưu ý là khi chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành những nội dung này cần bảo đảm hài hòa giữa hai yêu cầu là yêu cầu quản trị tổ chức của người lao động, đồng thời đó phải là những quy định phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế về tự do liên kết, không phải là những quy định can thiệp, hạn chế một cách không phù hợp quyền tự do, tự chủ của tổ chức của người lao động trong việc xây dựng điều lệ hoạt động của mình.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Câu hỏi thường gặp về tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp

Câu hỏi: Ban lãnh đạo tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp được hình thành như thế nào?

Trả lời:

Ban lãnh đạo do thành viên của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp bầu.

Câu hỏi: Điều kiện để trở thành thành viên ban lãnh đạo tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp là gì?

Trả lời:

Thành viên ban lãnh đạo là:

+ Người lao động Việt Nam đang làm việc tại doanh nghiệp;

+ Không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích do phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Câu hỏi: Tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp là gì?

Trả lời:

Tôn chỉ, mục đích và phạm vi hoạt động là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên tổ chức mình trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp; cùng với người sử dụng lao động giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động; xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.