1. Khái quát chung về sa thải trái luật

Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật là hành vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà buộc công chức, viên chức, người lao động thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội của tội này xâm phạm quyền làm việc của công dân được Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 35.
Đối tượng của tội phạm này là người làm việc trong các cơ quan nhà nước, trường học, bệnh viện, tổ chức xã hội, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được tuyển dụng trong biên chế là công chức, viên chức nhà nước hoặc là người lao động theo hợp đồng.

2. Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái luật

Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật được quy định tại Điều 162 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:
Điều 162. Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật
1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau đây gãy hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 thảng đến 01 năm:
a) Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đổi với công chức, viên chức;
b) Sa thải trái pháp luật đối với người lao động;
c) Cưỡng ép, đe dọa buộc công chức, viên chức, người lao động phải thôi việc.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200,000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
à) Đổi với 02 người trở lên;
b) Đổi với phụ nữ mà biết là có thai;
c) Đổi với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;
d) Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Sa thải viên chức trái pháp luật ban lãnh đạo có bị tội không?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

3. Bình luận về tội buộc công chức, viên chức nghỉ việc trái luật

Điều luật gồm 3 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật; khoản 2 quy định các trường họp phạm tội tâng nặng và khoản 3 quy định khung hình phạt bổ sung.

3.1 Dấu hiệu chủ thế của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này được quy định có thể là người có thẩm quyền buộc thôi việc hoặc sa thải người khác hoặc là người có thể buộc người khác tự thôi việc tùy thuộc vào hành vi được quy định mà họ thực hiện. Trong đó, người có thẩm quyền buộc thôi việc hoặc sa thải người khác là người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý, sử dụng công chức, viên chức hoặc người sử dụng lao động trong sử dụng lao động. Người có thể buộc người khác tự thôi việc không được điều luật quy định cụ thể nhưng đặt trong mối quan hệ giữa các hành vi được quy định cũng như ý nghĩa của điều luật, có thể hiểu họ phải là người có chức vụ, quyền hạn nhất định đối với công chức, viên chức hoặc người lao động.

3.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật được quy định có thể là:
+ Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức-. Đây là hành vi ra quyết định cho công chức, viên chức thôi việc mà quyết định này là trái pháp luật vì được ký không đúng thẩm quyền, không có lý do chính đáng hoặc không đúng trình tự, thủ tục. Để xác định tính trái pháp luật của quyết định buộc thôi việc công chức, viên chức cần căn cứ vào các quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 cũng như Luật viên chức năm 2010, trong đó có quy định về trường hợp được cho thôi việc. Cụ thể: Trong Luật cán bộ, công chức, khoản 3 Điều 58 quy định: Công chức 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết thôi việc; khoản 3 Điều 79 quy định: Công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; trong Luật viên chức, khoản 1 Điều 29 quy định: Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể phải chịu hình thức buộc thôi việc; khoản 1 Điều 57 quy định: Viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng thì bị buộc thôi việc, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn trong việc tuyển dụng và cho thôi việc đối với công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý ra quyết định buộc công chức, viên chức dưới quyền mình phải thôi việc trái pháp luật.
+ Sa thải trải pháp luật đổi với người lao động'. Đây là hành vi áp dụng hình thức xử lý kỷ luật (sa thải) đối với người lao động nhưng không đúng với quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về thẩm quyền, về căn cứ áp dụng hoặc về quy trình, thủ tục áp dụng. Sa thải trái pháp luật đối với người lao động là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn trong việc tuyển dụng và cho thôi việc đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý thải người lao động mà không có lý do chính đáng, trái với hợp đồng lao động.
+ Cưỡng ép, đe dọa buộc công chức, viên chức, người lao động phải thôi việc: Đây là hành vi ép buộc bằng thủ đoạn khác nhau như bắt phải thực hiện công việc trái với mong muốn hoặc có thái độ, cử chỉ, lời nói đe đọa làm cho công chức, viên chức, người lao động có tâm lý lo sợ và buộc phải thôi việc.Cưỡng ép, đe dọa buộc công chức, viên chức, người lao động phải thôi việc là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn trong việc tuyển dụng và cho thôi việc đối với công chức, viên chức làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý buộc công chức, viên chức, người lao động dưới quyền mình phải thôi việc bằng các thủ đoạn cưỡng ép, đe dọa tác động đến ý chí của những người này để buộc họ phải thôi việc trái với ý muốn của người đó mà không có lý do chính đáng hoặc không thông qua hội đồng xét kỷ luật của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật hiện hành.

3.3 Dấu hỉệu hậu quả của tội phạm

Hậu quả của tội phạm này được quy định là “hậu quả nghiêm trọng”. Theo đó, hành vi khách quan được quy định và bình luận trên chỉ cấu thành tội phạm khi đã gây ra hậu quả nghiêm trọng. Hiện nay, chưa có giải thích chính thức về hậu quả này. Tuy nhiên, có thể hiểu hậu quả nghiêm trọng có thể như hậu quả “họ và gia đình họ lâm vào tình trạng khốn khó, phải bán hết tài sản, thậm chí bán cả nhà để thanh toán các khoản nợ... hoặc gây bất bình cho người lao động, cán bộ, công chức trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đơn vị dẫn đến đình công, biểu tình, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội... hoặc do uất ức mà bị tâm thần, bị bệnh hiểm nghèo...

3.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý đối với hành vi khách quan. Đối với hậu quả nghiêm trọng, lỗi là vô ý.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng như sau:
- Đối với 02 người trở lên: Đây là trường hợp phạm tội có từ 02 nạn nhân trở lên.
- Đổi với phụ nữ mà biết là có thai: Đây là trường họp phạm tội mà nạn nhân là phụ nữ có thai và chủ thể biết việc có thai này. Việc phụ nữ có thai mất việc có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ và còn có thể ảnh hưởng đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng thai nhi do mất đi nguồn thu nhập từ lao động. Do đó, đây là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Đối với người đang nuôi con dưới 12 thảng tuổi: Đây là trường hợp phạm tội mà nạn nhân là người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đây là đối tượng cũng cần được ưu tiên bảo vệ để qua đó bảo vệ trẻ em còn quá ít tuổi. Do đó, đây cũng là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát'. Đây là trường họp phạm tội mà nạn nhân đã phải tự sát do bị buộc thôi việc hoặc bị sa thải. Việc bị buộc thôi việc hoặc bị sa thải trái pháp luật đã dẫn đến tâm lý không bình thường của nạn nhân và từ đó, nạn nhân đã tự sát.
- Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác-. Đây là trường họp phạm tội mà hậu quả do hành vi phạm tội gây ra vượt quá “hậu quả nghiêm trọng''' được quy định tại khoản 1, thể hiện ở việc như đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đến chính sách của Nhà nước, đến lòng tin của nhân dân, đến tình hình an ninh, trật tự nơi có người bị sa thải hoặc bị buộc thôi việc trái pháp luật...
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê