1. Khái niệm đời sống pháp luật

Đời sống pháp luật là một hình thức của đời sống xã hội, được thể hiện phân lớn trong các văn bản pháp luật và trong các quan hệ pháp luật, thể hiện các đặc điểm và trĩnh độ phát triển pháp luật của xã hội nhất định, quan hệ của các chủ thể đối với pháp luật và mức độ làm thỏa mãn các lợi ích của các chủ thể đó.

Đời sống pháp luật là tổng thể các loại và hình thức hoạt động và hành vi đa dạng của mọi người, của các tập thể của họ trong lĩnh vực hoạt động của pháp luật nhằm bảo đảm các điều kiện và phương tiện của sự tồn tại, của việc thực hiện các lợi ích tư và các lợi ích công, các lợi ích cá nhân và các lợi ích nhóm, của sự khẳng định các giá trị phù hợp với các lợi ích đó. Đời sống pháp luật thể hiện các hình thức tồn tại vật chất trong sự thống nhất của con người và của xã hội, mối quan hệ của con người đối với pháp luật, đối với việc sử dụng các phương tiện pháp luật cho việc các cá nhân và các liên minh của họ thực hiện các nhu cầu và lợi ích của mình. Đời sống pháp luật do pháp luật đang có hiệu lực quy định, và ở nghĩa đó, đời sống pháp luật là thế giới của các hiện thực (các hoạt động, các hành vi, các quan hệ) do các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Đời sống pháp luật là hiện tượng giàu có hơn, có nội dung phong phú hơn pháp luật (theo A.v. Mal'ko, V.A. Zatonskij: Chính sách pháp luật: Những cơ sở lý luận và thực tiễn: Tổhợp phương pháp giảng dạy, Sđd, tr.148 (bản tiếng Nga).

Khái niệm "đời sống pháp luật" là khái niệm lý luận chung, theo bản chất của mình, khái quát hóa, tổng kết các loại đời sống pháp luật chuyên ngành khác nhau. Để nghiên cứu đầy đủ nhất khái niệm đó cần phải tìm hiểu mối tương quan của khái niệm đó với các khái niệm "cùng loại" sau đây: "hình thức pháp luật", "hệ thống pháp luật", "văn hóa pháp luật", "thượng tầng pháp lý", "môi trường pháp luật", "cơ chế điều chỉnh pháp luật".

Các khái niệm nêu trên có rất nhiều điểm tương đồng. Tất cả các khái niệm đó là các khái niệm - phạm trù tổng hợp, rộng lớn, bao gồm nhiều yếu tố pháp lý: các văn bản pháp luật, ý thức pháp luật, thực tiễn pháp luật, quan hệ pháp luật, V.V.. Các khái niệm đó có mối liên hệ lẫn nhau, thế hiện những tầng nấc rất rộng lớn của tồn tại pháp luật, chứa đựng những hình thức biểu hiện khác nhau của tồn tại pháp luật.

Đồng thời, "đời sống pháp luật" là phạm trù pháp lý độc lập, có những điểm khác biệt với các phạm trù đã nêu ở trên.

2. Phạm trù hình thức pháp luật

Phạm trù gần nhất với phạm trù đời sống pháp luật là phạm trù "hình thức pháp luật". Phạm trù hình thức pháp luật, về cơ bản, được sử dụng ở ngữ cảnh nhất định, trước hết, là để thiết kế các mối liên hệ xã hội và chỉ ra vai trò của pháp luật với tư cách là một chế định pháp lý hình thức trong mối tương quan của nó với các nội dung khác - những quan hệ xã hội phong phú, đa dạng và nền tảng.

Tuy vậy, khái niệm "hình thức pháp luật" không phản ánh toàn bộ hiện thực pháp lý, bởi vì, nó không thê’ bao hàm cả phần tiêu cực, không hợp pháp. Phản ánh toàn bộ hiện thực pháp lý (cả hiện thực hiện tại lẫn hiện thực quá khứ) là chức năng, nói một cách đúng nghĩa, là chức năng tiền định cơ bản chỉ của khái niệm "đời sống pháp luật". Tự mình từ "đời sống", như thực tế cho thấy, là hiện thực thực tế.

Nhưng cũng không được quy đời sống pháp luật chỉ về tồn tại pháp lý, bởi vì, "hiện thực pháp luật bao gồm cả ý thức, chính xác hơn, ý thức pháp luật với các yếu tố của nó - tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật".

3. Bàn luận về "đời sống pháp luật" - "hệ thống pháp luật"

Cũng giống như trong khoa học chính trị, cùng với khái niệm "hệ thống chính trị" còn có khái niệm "đời sống chính trị" và trong luật học, cùng với phạm trù "hệ thống pháp luật" cần phải có cả phạm trù "đời sống pháp luật". Điều đó có nghĩa rằng, trong khoa học pháp lý các khái niệm "đời sống pháp luật" và "hệ thống pháp luật" phần lớn có mối tương quan giống như các khái niệm "đời sống chính trị" và "hệ thống chính trị" như trong chính trị học, còn trong khoa học kinh tế là các khái niệm "đời sống kinh tế" và "hệ thống kinh tế".

Hệ thống pháp luật tạo ra các điều kiện cho dòng chảy bình thường của đời sống pháp luật, bảo đảm tính ổn định của nó, trung lập hóa và loại trừ khỏi đời sống pháp luật những hiện tượng pháp lý tiêu cực. Nói cách khác, trong mối quan hệ với đời sống pháp luật, hệ thống pháp luật đóng vai trò tổ chức, bảo đảm cho đời sống pháp luật tính thống nhất nhất định và các cơ sở họp pháp. Từ đây cho thấy, cần phải hoàn thiện và củng cố các yếu tố của hệ thống pháp luật nước ta, bởi lẽ, điều đó sẽ tạo ra các điều kiện cho việc làm giàu có hơn, phong phú hơn và tối ưu hóa đời sống pháp luật.

Tuy vậy, "hệ thống pháp luật chỉ là một bộ phận điều chỉnh quy phạm cấu thành của bản thân đời sống pháp luật, bởi vì, hiện tượng (và khái niệm) đời sống pháp luật rộng hơn hiện tượng (và khái niệm) hệ thống pháp luật".

Nếu như hiểu đời sống pháp luật là toàn bộ hiện thực pháp luật, thì khi đó cần phải lưu ý trước về mối quan hệ của đời sống pháp luật vói nhận thức rộng lớn về hệ thống pháp luật. Bởi vì, "từ quan điểm lý luận rộng lón, hệ thống pháp luật là khái niệm tổng hợp nhiều mức độ, chiều cạnh, phản ánh tổng thể các hiện tượng pháp lý đang tồn tại trong xã hộir là kho tàng các phương tiện pháp luật được xã hội sử dụng". Và tiếp đến, "khó mà hình dung được rằng, có các cấu thành cơ bản nào đó của hiện thực pháp lý thực tại tồn tại bên ngoài hệ thống pháp luật của xã hội, bên ngoài lĩnh vực pháp luật của nó". Nhưng cần phải lưu ý rằng, đó mới chỉ là bộ phận tích cực - hợp pháp của đời sống pháp luật.

4. Yếu tố của hệ thống pháp luật

Các yếu tố của hệ thống pháp luật, trước hết, là các yếu tố cần thiết cho quá trình điều chỉnh pháp luật, cho sự tác động có tính hướng đích đến ý thức và hành vi của các chủ thê’ trong xã hội. Hệ tư tưởng pháp luật không thống trị và các hiện tượng pháp luật tiêu cực cũng có mối quan hệ vói sự tồn tại của pháp luật và có màu sắc pháp lý nhất định, nhung không phải là các yếu tố của hệ thống pháp luật.

Hệ thống pháp luật, với tư cách là một mặt của đời sống pháp luật, là một giá trị năng động, có tổ chức bên trong, bao gồm các quá trình và hoạt động hướng đến việc hình thành và hoàn thiện các hiện tượng pháp luật và các mối liên hệ lẫn nhau của chúng.

Do đó, "phạm trù "đời sống pháp luật" cho phép đánh giá một cách rộng lớn nhất hiện thực pháp luật cả ở phương diện tích cực lẫn ở phương diện tiêu cực". Hiện nay, phạm trù như vậy cần phải có, bởi vì, nó làm cho các hiện tượng pháp luật do nó phản ánh có được tính chỉnh thể nhất định. Chính trong bản thân của mọi lĩnh vực đời sống, trong đó có đời sống pháp luật, đang tồn tại các hiện tượng và các quá trình có những định hướng khác nhau, cả các hiện tượng và các quá trình tích cực, lẫn các hiện tượng và các quá trình tiêu cực. Chính sách pháp luật và toàn bộ hệ thống pháp luật có nhiệm vụ đấu tranh với các hiện tượng và các quá trình tiêu cực. Khái niệm "đời sống pháp luật" đem đến khả năng xem xét hiện thực pháp lý đang tồn tại một cách khách quan hơn, với tất cả các xu hướng tiến bộ và tiêu cực, vói các kết quả tích cực và tiêu cực của nó đối với việc tổ chức các mốì liên hệ xã hội.

Ngoài ra, đời sống pháp luật không chỉ phản ánh hiện thực pháp lý tổng thể được điều chỉnh và không được điều chỉnh, mà còn cả quá trình phát triển lịch sử của pháp luật nói chung, các giai đoạn tiến triển cơ bản của nó. Phạm trù "đời sống pháp luật" khác với phạm trù "hiện thực pháp lý" bằng điều đó.

5. Văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật của xã hội được hiểu là trạng thái về chất của đời sống pháp luật của xã hội, thể hiện trình độ đã đạt được của việc hoàn thiện các văn bản pháp luật, của hoạt động xây dựng pháp luật, của hoạt động áp dụng pháp luật, của ý thức pháp luật và của sự phát triển pháp luật của cá nhân, cũng như mức độ tự do của hành vi của cá nhân và trách nhiệm lẫn nhau của nhà nước và của cá nhân, của chính các điều kiện ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển xã hội và duy trì sự tồn tại của xã hội. về mặt hiện thực, văn hóa pháp luật thể hiện vói tư cách là một phạm trù giá trị thể hiện trạng thái về chất của đời sống pháp luật của xã hội ở từng giai đoạn phát triển của nó.

Văn hóa pháp luật là khái niệm hẹp hơn so với khái niệm đời sống pháp luật. Văn hóa pháp luật là khái niệm được sử dụng chỉ để thể hiện cái hoàn thiện, cái tích cực trong sự tồn tại của pháp luật và là một bộ phận cấu thành của phạm trù "đời sống pháp luật". Phạm trù đời sống pháp luật, như phân tích ở trên, bao gồm cả các hiện tượng và các quá trình hoàn thiện pháp luật, lẫn không hoàn thiện pháp luật, cả các hiện tượng và các quá trình pháp luật tích cực, lẫn các hiện tượng và các quá trình pháp luật tiêu cực.

Khái niệm "thượng tầng pháp lý" chỉ rõ vị trí và vai trò của các nền tảng pháp luật chỉ đối vói hạ tầng kinh tế, còn khái niệm đời sống pháp luật, khi bao gồm thượng tầng pháp lý, hàm chứa trong mình tất cả các khía cạnh khác của sự tồn tại pháp luật: khía cạnh tôn giáo, khía cạnh dân tộc.

Nếu như khái niệm "môi trường pháp luật" chỉ phản ánh bầu không khí pháp luật đặc thù, tổng thể các điều kiện tương ứng mà trong phạm vi của chúng hoạt động pháp lý được tiến hành, thì phạm trù "đời sống pháp luật" phản ánh bộ phận pháp lý của hoạt động sống xã hội, tất cả các hình thức và các loại biểu hiện của hiện thực pháp luật, tất cả những gì diễn ra trong xã hội thuộc về lĩnh vực pháp lý.

Nếu như cơ chế điều chỉnh pháp luật là phạm trù có nhiệm vụ phản ánh, về cơ bản, mặt chức năng, hành vi của pháp luật, quá trình hoạt động của nó, thì đời sống pháp luật không chỉ phản ánh điều đó mà còn phản ánh cả các cơ sở thể chế của pháp luật. Cơ chế điều chỉnh pháp luật là tổng thê’ thống nhất (nhưng không phải của tất cả) các phương tiện có sự tác động điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội. Chính khái niệm "đời sống pháp luật" bao gồm tất cả các phương tiện pháp lý, toàn bộ hiện thực pháp luật, cái được gọi là toàn bộ đời sống pháp lý đang có.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).