1. Nghị định 248 là gì và quy định về bảng lương cơ bản
Nghị định 248/2025/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 15/9/2025 nhằm quy định về chế độ tiền lương, thù lao và tiền thưởng đối với người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước và kiểm soát viên tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ vốn theo phạm vi điều chỉnh của nghị định. Đây là một trong những văn bản quan trọng trong lộ trình cải cách chính sách tiền lương, hướng đến việc xây dựng cơ chế trả lương gắn với hiệu quả quản trị doanh nghiệp thay vì chỉ dựa trên yếu tố thâm niên hoặc hệ số lương.
Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định 248 là chuyển từ cơ chế tính lương theo hệ số sang quy định mức lương cơ bản bằng giá trị tuyệt đối. Mức lương cơ bản này là căn cứ để doanh nghiệp xác định quỹ tiền lương, thực hiện đóng các loại bảo hiểm bắt buộc theo quy định và làm cơ sở tính toán tiền lương thực tế của người quản lý dựa trên kết quả sản xuất, kinh doanh.
Theo cơ chế mới, mức lương cơ bản không đồng nghĩa với khoản thu nhập thực nhận hằng tháng. Thu nhập thực tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lợi nhuận, doanh thu, năng suất lao động, khả năng bảo toàn và phát triển vốn nhà nước cũng như mức độ hoàn thành các chỉ tiêu được giao.
Nghị định 248 cũng thể hiện rõ định hướng của Nhà nước trong việc nâng cao tính tự chủ của doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp được chủ động xây dựng phương án quỹ tiền lương trong phạm vi quy định của pháp luật, đồng thời phải chịu trách nhiệm giải trình trước cơ quan đại diện chủ sở hữu và cơ quan kiểm tra, kiểm toán.
Cần phân biệt bảng lương theo Nghị định 248 với bảng lương của cán bộ, công chức, viên chức. Đây là hai hệ thống tiền lương hoàn toàn độc lập.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức, tiền lương được tính trên cơ sở mức lương cơ sở và hệ số lương theo ngạch, bậc.
Đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 248, tiền lương được xác định theo mức lương cơ bản tuyệt đối kết hợp với hệ số hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Do đó, các mức lương 30 triệu đồng, 31 triệu đồng hoặc 37 triệu đồng/tháng được nhắc đến trong Nghị định 248 không phải là mức lương áp dụng cho toàn bộ khu vực nhà nước mà chỉ áp dụng đối với một số nhóm chức danh quản lý tại doanh nghiệp nhà nước theo quy định của nghị định.
2. Đối tượng áp dụng mức lương 30 - 31 - 37 triệu đồng/tháng
Không phải tất cả người lao động trong doanh nghiệp nhà nước đều được áp dụng các mức lương cơ bản 30 triệu đồng, 31 triệu đồng hoặc 37 triệu đồng/tháng. Nghị định 248 chỉ điều chỉnh đối với một số chức danh quản lý và giám sát theo quy định.
Các đối tượng áp dụng gồm:
- Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, như Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng thành viên.
- Người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.
- Kiểm soát viên được cơ quan đại diện chủ sở hữu cử thực hiện nhiệm vụ giám sát doanh nghiệp.
Ngoài việc thuộc đúng nhóm chức danh, người được áp dụng còn phải đáp ứng điều kiện là người làm việc chuyên trách tại doanh nghiệp. Đây là những cá nhân dành toàn bộ thời gian làm việc tại doanh nghiệp và được xếp lương theo chế độ tiền lương của doanh nghiệp.
Đối với người làm việc không chuyên trách, nghị định quy định tiếp tục hưởng lương tại cơ quan công tác chính. Trường hợp được cử tham gia quản lý doanh nghiệp thì chỉ được hưởng thù lao theo quy định và không áp dụng đầy đủ bảng lương cơ bản như người làm việc chuyên trách.
Mức lương cụ thể của từng cá nhân còn phụ thuộc vào việc doanh nghiệp được xếp vào nhóm nào theo các tiêu chí về quy mô vốn, doanh thu, lợi nhuận và hiệu quả hoạt động quy định tại Phụ lục II của Nghị định 248. Vì vậy, hai người giữ cùng một chức danh nhưng làm việc tại các doanh nghiệp khác nhau có thể được áp dụng mức lương cơ bản khác nhau theo quy định hiện hành.
3. Chi tiết các mức lương cơ bản theo Nghị định 248
Nghị định 248/2025/NĐ-CP không quy định một mức lương thống nhất cho tất cả người quản lý doanh nghiệp nhà nước mà xây dựng bảng lương theo từng nhóm doanh nghiệp và từng chức danh quản lý. Việc xếp mức lương được căn cứ vào quy mô vốn, doanh thu, lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp theo Phụ lục II ban hành kèm theo nghị định.
Đối với doanh nghiệp thuộc Nhóm II, các mức lương cơ bản được nhiều người quan tâm là 30 triệu đồng, 31 triệu đồng và 37 triệu đồng/tháng.
Cụ thể như sau:
| Chức danh | Nhóm II - Mức 1 | Nhóm II - Mức 2 | Nhóm II - Mức 3 |
|---|---|---|---|
| Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị | 48 triệu đồng/tháng | 42 triệu đồng/tháng | 37 triệu đồng/tháng |
| Trưởng Ban kiểm soát | 41 triệu đồng/tháng | 36 triệu đồng/tháng | 31 triệu đồng/tháng |
| Thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, kiểm soát viên chuyên trách | 40 triệu đồng/tháng | 35 triệu đồng/tháng | 30 triệu đồng/tháng |
Trong đó:
- Mức 37 triệu đồng/tháng áp dụng đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị tại doanh nghiệp được xếp Nhóm II - Mức 3.
- Mức 31 triệu đồng/tháng áp dụng đối với Trưởng Ban kiểm soát thuộc cùng nhóm doanh nghiệp.
- Mức 30 triệu đồng/tháng áp dụng đối với Thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị và kiểm soát viên chuyên trách tại Nhóm II - Mức 3.
Đây là mức lương cơ bản làm căn cứ thực hiện chế độ tiền lương và đóng các loại bảo hiểm bắt buộc theo quy định của pháp luật, không phải là mức thu nhập thực nhận cuối cùng.
Thu nhập thực tế của người quản lý có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức lương cơ bản tùy thuộc vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trường hợp doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch lợi nhuận, mức tiền lương thực tế có thể được tính đến tối đa gấp 2 lần mức lương cơ bản theo quy định của Nghị định 248.
Nếu doanh nghiệp vượt kế hoạch lợi nhuận, tiền lương có thể tiếp tục được điều chỉnh tăng theo cơ chế khuyến khích nhưng phải bảo đảm giới hạn tối đa mà nghị định quy định.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có lợi nhuận hoặc bị thua lỗ thì tiền lương thực nhận của người quản lý sẽ bị giảm tương ứng. Điều này thể hiện nguyên tắc gắn thu nhập với hiệu quả quản trị và trách nhiệm bảo toàn vốn nhà nước.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến bảng lương cơ bản mới
Mặc dù Nghị định 248 quy định mức lương cơ bản cho từng chức danh, việc xác định người quản lý được hưởng mức nào vẫn phụ thuộc vào nhiều yếu tố pháp lý và kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Yếu tố đầu tiên là chức danh quản lý.
Mỗi chức danh được quy định một mức lương cơ bản khác nhau. Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty có mức lương cơ bản cao hơn Trưởng Ban kiểm soát và thành viên Hội đồng thành viên do phạm vi quyền hạn, trách nhiệm và mức độ chịu trách nhiệm trong quản trị doanh nghiệp khác nhau.
Yếu tố thứ hai là việc phân loại doanh nghiệp.
Doanh nghiệp được phân loại theo các tiêu chí về quy mô vốn, doanh thu, lợi nhuận và hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Kết quả phân loại quyết định doanh nghiệp được xếp vào mức 1, mức 2 hay mức 3 trong từng nhóm và từ đó xác định mức lương cơ bản tương ứng.
Yếu tố thứ ba là kết quả sản xuất, kinh doanh.
Mặc dù không làm thay đổi mức lương cơ bản, lợi nhuận và hiệu quả hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương thực tế mà người quản lý được hưởng. Đây là điểm khác biệt lớn so với cơ chế trả lương theo hệ số trước đây.
Yếu tố thứ tư là tính chất làm việc chuyên trách hay không chuyên trách.
Người quản lý làm việc chuyên trách được áp dụng bảng lương theo Nghị định 248. Trong khi đó, người làm việc không chuyên trách chủ yếu hưởng lương tại cơ quan công tác chính và chỉ nhận thù lao theo quy định của pháp luật.
Yếu tố thứ năm là các yếu tố khách quan được pháp luật công nhận.
Nghị định 248 cho phép xem xét loại trừ tác động của một số yếu tố khách quan khi đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm:
- Thay đổi chính sách của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu hoặc lợi nhuận.
- Thực hiện nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích theo yêu cầu của Nhà nước.
- Thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc các biến động kinh tế lớn ngoài khả năng kiểm soát.
- Doanh nghiệp đang thực hiện tái cơ cấu, xử lý tồn tại tài chính hoặc cổ phần hóa theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Việc xem xét các yếu tố khách quan nhằm bảo đảm việc đánh giá hiệu quả quản trị được khách quan, tránh làm giảm quyền lợi của người quản lý khi doanh nghiệp chịu tác động từ các nguyên nhân bất khả kháng.
5. Giải đáp thắc mắc thường gặp về quy định lương cơ bản
Lương 30 triệu đồng, 31 triệu đồng và 37 triệu đồng/tháng có phải là mức lương thực nhận không?
Không. Đây là mức lương cơ bản theo Nghị định 248. Thu nhập thực nhận còn phụ thuộc vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức hoàn thành chỉ tiêu và các quy định về tiền thưởng, tiền lương tăng thêm của doanh nghiệp.
Mức lương cơ bản này có phải là căn cứ đóng bảo hiểm xã hội không?
Có. Theo cơ chế của Nghị định 248, mức lương cơ bản là căn cứ để thực hiện các nghĩa vụ về bảo hiểm bắt buộc theo quy định của pháp luật hiện hành.
Người quản lý có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với mức lương này không?
Có. Thu nhập từ tiền lương là khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Việc xác định số thuế phải nộp được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân sau khi trừ các khoản được giảm trừ và các khoản bảo hiểm bắt buộc.
Giáo viên, bác sĩ hoặc công chức có được áp dụng bảng lương theo Nghị định 248 không?
Không. Nghị định 248 chỉ điều chỉnh chế độ tiền lương đối với người quản lý, người đại diện phần vốn nhà nước và kiểm soát viên tại doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định. Cán bộ, công chức, viên chức, giáo viên và bác sĩ tiếp tục thực hiện chế độ tiền lương theo các quy định riêng áp dụng đối với từng nhóm đối tượng.
Lương cơ bản có được điều chỉnh hằng năm không?
Việc điều chỉnh không diễn ra tự động theo từng năm. Mức lương áp dụng phụ thuộc vào kết quả phân loại doanh nghiệp và các quy định của Chính phủ tại từng thời điểm. Khi doanh nghiệp được xếp vào nhóm hoặc mức khác theo tiêu chí của Nghị định 248 thì mức lương cơ bản của người quản lý cũng được điều chỉnh tương ứng.
Nếu doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ thì người quản lý có bị giảm lương không?
Có. Nghị định 248 áp dụng nguyên tắc gắn thu nhập với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp không đạt chỉ tiêu lợi nhuận hoặc bị thua lỗ thì tiền lương thực tế của người quản lý có thể bị giảm theo giới hạn do nghị định quy định, mặc dù mức lương cơ bản vẫn là căn cứ để xác định chế độ tiền lương và đóng bảo hiểm.
Ngoài ra bạn đọc cũng có thể xem thêm: