Trong trường hợp, cá nhân, tổ chức thực hiện các hành vi vi phạm trong việc sử dụng internet, mạng xã hội mà theo quy định pháp luật sẽ chịu trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính. Thêm vào đó, hành vi vi phạm do lỗi của cá nhân, tổ chức đó gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác thì cá nhân, tổ chức còn có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định những trường hợp ngoại lệ không phải bồi thường, đó là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác, hoặc pháp luật có quy định những trường hợp không phải bổi thường.

1. Trách nhiệm dân sự là gì?

Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại.

* Đặc điểm của trách nhiệm dân sự

Thứ nhất: Căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự phải là hành vi vi phạm pháp luật dân sự: Đó là việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ dân sự;

Thứ hai: Trách nhiệm dân sự là biện pháp cưỡng chế mang tính tài sản. Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự mục đích mà các bên hướng đến là lợi ích. Chính vì vậy, lợi ích mà các bên hướng tới sẽ mang tính tìa sản và đó là trách nhiệm bù đắp cho bên bị vi phạm một lợi ích nhất định từ bên vi phạm

Thứ ba: Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm của bên vi phạm trước bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm

Thứ tư: Chủ thể chịu trách nhiệm dân sự ngoài người vi phạm nghĩa vụ còn có thể là những chủ thể khác như: Pháp nhân, cơ quan, tổ chức, người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên…

Thứ năm: Hậu quả bất lợi mà người vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu có thể là việc phải thực hiện nghĩa vụ, thực hiện đúng và thực hiện đủ nghĩa vụ và nếu có thệt hại thực tế từ vi phạm đó thì sẽ phát sinh thêm trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Thứ sáu: Trách nhiệm dân sự nhằm đền bù hoặc khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm phạm.

>> Xem thêm:  Kinh doanh tiền ảo trên mạng có phải là phạm pháp không?

2. Về mức bồi thường thiệt hại đối với những hành vi vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm dân sự

Về mức bồi thường do các bên có thể thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Còn nếu không thỏa thuận được, mức bồi thường sẽ được xác định dựa tính chất đối tượng bị xầm phạm như sau:

> Thiệt hại đối với tài sản gồm Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; và Thiệt hại khác do luật quy định;

> Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; Chi phí hợp lý và phẩn thu nhập thực tê' bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cẩn phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại; và Thiệt hại khác do luật quy định. Ngoài khoản tiền vừa đề cập, người chịu trách nhiệm bồi thường phải bổi thường một khoản tiến khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất vể tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định;

> Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm gồm: Chi phí hợp lý cho việc mai táng; Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng; và Thiệt hại khác do luật quy định. Ngoài các khoản tiền vừa để cập, người chịu trách nhiệm bồi thường phải bôi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thần thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thẩn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lấn mức lương cơ sở do Nhà nước quy định; và

> Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; và Thiệt hại khác

do luật quy định. Ngoài các khoản tiền vừa đề cập, người chịu trách nhiệm bồi thường phải bổi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất vể tinh thẩn mà người đó gánh chịu. Mức bổi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xầm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Ngoài ra, mức bổi thường thiệt hại này có thể được giảm nếu cá nhân, tổ chức gây thiệt hai không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình. Sau khi, mức bồi thường được xác định nhưng không còn phù hợp với thực tế, bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường. Cần lưu ý, nếu người bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được yêu cầu người gây thiệt hại bổi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Còn đối với hình thức bổi thường thiệt hại, các bên có thể thỏa thuận bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc dưới phương thức một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Hành vi vu khống qua mạng.

Câu hỏi: Xin chào luật sư. Em có tham gia 3 nhóm bán hàng trên mạng xã hội. Em vừa rời khỏi 2 nhóm cách đây không lâu. Dạo gần đây em nghe một vài thông tin nói về em trên trang các nhóm là lừa đảo khi chưa gặp mặt. 2 nhóm đó đăng bài lên tường và nói với các thành viên là cẩn thận để tránh bị lừa đảo.

>> Xem thêm:  Hành vi đe dọa tống tiền bị xử lý thế nào ?

Kèm theo là những dòng trạng thái là hình ảnh đoạn chat của em và 1 người nào đó trong nhóm. Nhưng sự thật là em không hề biết gì về đoạn chat đó. Các thành viên, kể cả chủ nhóm củng không hỏi em việc đó là sai hay đúng. Và em sợ những hình ảnh đó sẽ không chỉ xuất hiện ở 1 trang mạng mà còn lên nhiều trang khác.

Cho em hỏi. Nếu em muốn khiếu nại họ về tội vu khống, bôi nhọa danh dự người khác thì có được hay không? Mong luật sư cho em câu trả lời sớm nhất để giải quyết?

Chân thành cảm ơn và mong các luật sư giúp đỡ.

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bạn bị vu khống trên mạng xã hội. Hành vi này tùy thuộc và mức độ vi phạm cũng như hậu quả xảy ra có thể bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm dân sự nặng hơn có thể là bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

3.1. Trách nhiệm dân sự

Theo Bộ Luật dân sự 2015 thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, ...Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

3.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi vu khống?

Theo Bộ Luật dân sự 2015 thì người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường và người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

- Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

>> Xem thêm:  Bị lừa đảo qua facebook có khởi kiện được không ? Mất tiền, có đòi lại được không ?

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

- Thiệt hại khác.

Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

4. hành vi bôi nhọ danh dự qua mạng

Câu hỏi: Thưa Quý Luật sư, Hiện tại em đang làm ở một công ty về bất động sản và đã có gia đình. Em bị một người phụ nữ đăng ảnh tin nhắn, cuộc gọi vu cáo em có quan hệ bất chính với chồng bà ấy trên facebook (chồng bà ấy làm chung công ty với em). Trong khi đó chỉ là những tin nhắn và cuộc gọi mang tính chất công việc. Hiện tại, vấn đề đó ảnh hưởng rất nhiều đến công việc, quan hệ gia đình và các mối quan hệ trong công ty em làm việc. Xin Quý Luật sư cho em xin ý kiến phải giải quyết như thế nào trong trường hợp này?

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Hiện nay, pháp luật dân sự công nhận quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm . Tại Điều 34 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về cá nhân có quyền bảo vệ danh dự nhân phẩm uy tín của mình. Cụ thể:

"Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại."

Như vậy, theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 bạn có thể tiến hành khởi kiện để yêu cầu người gây ra thiệt hại cho bạn phải tiến hành bồi thường thiệt hại gây ra. Theo quy định tại Điều 592 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định:

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Như vậy, bạn có thể xác định những thiệt hại được pháp luật quy định nêu trên và yêu cầu mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần và tiến hành khởi kiện lên tòa án nhân dân cấp huyện nơi mà người tiến hành hành vi xúc phạm danh dự bạn phải bồi thường thiệt hại.

4.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi bôi nhọ danh dự, nhân phẩm

>> Xem thêm:  Phát tán ảnh nóng và xúc phạm nhân phẩm người khác lên mạng sẽ bị xử lý như thế nào ?

Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, người nào có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Theo đó, người vi phạm không những phải bồi thường các chi phí để khắc phục thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị bôi nhọ về danh dự, nhân phẩm. Mức tiền do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tiền bồi thường tối đa là không quá 10 tháng lương cơ sở (hiện nay tương đương 14,9 triệu đồng).

Bên cạnh đó, người bị thông tin sai sự thật làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai (căn cứ khoản 5 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015).

Như vậy, người thực hiện hành vi bôi nhọ danh dự, nhân phẩm người khác vừa phải bồi thường thiệt hại bằng tiền, vừa phải công khai xin lỗi, cải chính thông tin nếu người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm yêu cầu.

5. Hành vi xâm phạm đến hình ảnh cá nhân

Câu hỏi: Thưa Luật sư, em là sinh viên năm ba đại học, tham gia mạng xã hội được 7 năm và có chia sẻ rất nhiều hình ảnh cá nhân công khai trên mạng xã hội Facebook. Vừa qua, em có phát hiện một shop quần áo đã tự tiện lấy hình ảnh cá nhân của em để bán hang mà không hề xin phép. Vậy trong trường hợp trên em phải làm thế nào để ngăn chặn hành vi này theo pháp luật?

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý. Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.

Việc sử dụng hình ảnh của người khác trên mạng xã hội chủ yếu dưới hai dạng là nhằm mục đích thương mại và phi thương mại. Hành vi sử dụng nhằm mục đích thương mại thì lợi nhuận là mục tiêu quan trọng khi tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi sử dụng hình ảnh của chủ thể hình ảnh, trong khi đó, hành vi sử dụng với mục đích phi thương mại nghĩa là khi sử dụng hình ảnh của chủ thể hình ảnh không xuất phát từ những lợi ích vật chất mà hướng đến các mục đích khác.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Bộ luật Dân sự, thì khi chủ thể có hình ảnh bị xâm phạm trên mạng xã hội thì có quyền tự mình hoặc được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm. Biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả khi mà người thực hiện hành vi xâm phạm đối với hình ảnh của cá nhân sớm nhận thức được hành vi trái pháp luật của mình.

>> Xem thêm:  Tung ảnh nóng và xúc phạm nhân phẩm người khác lên mạng sẽ bị như thế nào ?

Trong trường hợp người thực hiện hành vi xâm phạm không có những biện pháp chấm dứt ngay hành vi của mình và ngăn ngừa hậu quả xảy ra, thì chủ thể có quyền đối với hình ảnh bị xâm phạm phải áp dụng các biện pháp khác để bảo vệ quyền hình ảnh của mình.

Vì chưa có điều luật cụ thể quy định về bồi thường thiệt hại khi hình ảnh bị xâm phạm, do đó, khi giải quyết tranh chấp về vấn đề này, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ vào quy định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đề giải quyết. Về nguyên tắc, thiệt hại được bồi thường toàn bộ và kịp thời.

Tuy nhiên, việc xác định thiệt hại trong trường hợp này rất khó khăn vì tính chất của mạng xã hội là dịch vụ kết nối các thành viên có cùng sở thích trên internet không phân biệt không gian và thời gian, có tính lan truyền nhanh, rộng đến nhiều đối tượng.

Hành vi phát tán hình ảnh của cá nhân nhằm xâm hại tới danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình họ ngoài việc phải bồi thường vật chất, còn phải bồi thường tổn thất về tinh thần. Theo Điều 592 Bộ luật Dân sự, mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trước hết do các bên thỏa thuận, nếu các bên không thể thỏa thuận thì Tòa án sẽ xác định một mức hợp lý nhưng không vượt quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Tuy nhiên, với quy định mức bồi thường không vượt quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì không phản ánh hết được những thiệt hại của chủ thể hình ảnh vì chủ thể hình ảnh luôn luôn độc lập với nhau trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại cũng như mức độ vi phạm của hành vi xâm phạm hình ảnh của cá nhân liên quan đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trên môi trường mạng xã hội có những đặc thù riêng so với các trường hợp xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thông thường.

Do tính chất lan truyền thông tin nhanh chóng và mức độ tương tác của người dùng trên các trang mạng xã hội rất cao, nên hậu quả của hành vi xâm phạm hình ảnh cá nhân liên quan đến danh dự, nhân phẩm của mỗi chủ thể là khác nhau.

Vì vậy, mức bù đắp tổn thất tinh thần cần được xác định một cách độc lập cho từng người với những mức yêu cầu khác nhau so với giới hạn của luật là không vượt quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

>> Xem thêm:  Tội vu khống người khác bị xử lý hình sự thế nào ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Chính sách của Nhà nước về an ninh mạng là gì?

Trả lời:

Chính sách của Nhà nước về an ninh mạng là: Ưu tiên bảo vệ an ninh mạng trong quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và đối ngoại; xây dựng không gian mạng lành mạnh, không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; ưu tiên nguồn lực xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng; nâng cao năng lực cho lực lượng bảo vệ an ninh mạng và tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng; ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ để bảo vệ an ninh mạng; khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng, xử lý các nguy cơ đe dọa an ninh mạng; nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng; phối hợp với cơ quan chức năng trong bảo vệ an ninh mạng; tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh mạng.

Câu hỏi: Khái niệm an ninh mạng là gì?

Trả lời:

An ninh mạng, an ninh máy tính, bảo mật công nghệ thông tin là việc bảo vệ hệ thống mạng máy tính khỏi các hành vi trộm cắp hoặc làm tổn hại đến phần cứng, phần mềm và các dữ liệu, cũng như các nguyên nhân dẫn đến sự gián đoạn, chuyển lệch hướng của các dịch vụ hiện đang được được cung cấp.

Câu hỏi: Xử dụng hình ảnh cá nhân của người khác bị phạt bao nhiêu tiền?

Trả lời:

Tại điểm e khoản 2 Điều 8 Nghị định 159/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí quy định: “Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: đăng, phát ảnh của cá nhân mà không được sự đồng ý của người đó, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Ngoài ra, theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình (viết tắt Nghị định 167/2013/NĐ-CP). Mà theo đó, theo điểm a khoản 1 Điều 5 của Nghị địng này, quy định: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác”