1. Hiểu thế nào về mua bán thông tin khách hàng?

Khái niệm "thông tin khách hàng" ám chỉ tới các dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng, được tổng hợp và lưu trữ bởi các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm và dịch vụ. Thông thường, các thông tin cơ bản bao gồm họ tên và số điện thoại được lưu trữ. Tuy nhiên, trong một số ngành đặc thù, các doanh nghiệp thu thập thêm những thông tin chi tiết hơn về khách hàng để đáp ứng mục đích cung cấp dịch vụ chất lượng và hoạt động quảng cáo hiệu quả.

Hành vi mua bán thông tin khách hàng đề cập đến việc cá nhân hoặc tổ chức mua và bán dữ liệu khách hàng mà họ sở hữu cho bên thứ ba khác, với mục đích tạo ra lợi nhuận. Hành động này thường xảy ra trong môi trường kinh doanh và có thể có nhiều hình thức và quy mô khác nhau. Việc chuyển nhượng thông tin khách hàng có thể bao gồm việc bán hoặc chia sẻ dữ liệu cho các tổ chức hoặc cá nhân khác để sử dụng trong các chiến dịch tiếp thị, nghiên cứu thị trường, phân tích dữ liệu, hoặc các mục đích kinh doanh khác. Trong quá trình này, quyền riêng tư và bảo vệ thông tin cá nhân của khách hàng có thể được đặt vào tình trạng nguy hiểm, và việc bảo vệ quyền riêng tư trở thành một vấn đề quan trọng cần được xem xét và giải quyết một cách cẩn thận.

2. Bán thông tin khách hàng có bị xử lý hình sự không?

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính và mạng viễn thông là hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm việc cung cấp thông tin trái với quy định của luật pháp. Đây có thể là hành động mua bán, trao đổi hoặc công khai những thông tin hợp pháp thuộc sở hữu của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông và mạng Internet, hoặc các hành vi khác gây ra hậu quả nghiêm trọng. Những vi phạm này có thể gây nguy hiểm đến sự an toàn và quyền riêng tư của người khác, ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh và gây mất lòng tin của công chúng. Do đó, việc chống lại và xử lý những hành vi vi phạm này là rất quan trọng để bảo vệ sự riêng tư và an ninh thông tin của mạng máy tính và mạng viễn thông.

Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015  về cấu thành tội phạm của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông bao gồm các mặt cụ thể sau:

- Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội phạm hiện rõ qua những hành vi sau đây:

+ Đưa lên mạng máy tính và mạng viễn thông những thông tin vi phạm pháp luật, trừ khi rơi vào các trường hợp được quy định tại các điều 117, 155, 156 và 326 của Bộ luật hiện hành.

+ Mua bán, trao đổi, tặng, sửa chữa, thay đổi hoặc tiết lộ thông tin hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trên mạng máy tính và mạng viễn thông mà không có sự cho phép từ chủ sở hữu thông tin đó.

+ Các hành vi khác sử dụng thông tin trái phép trên mạng máy tính và mạng viễn thông.

Những hành vi vi phạm trên sẽ chịu trách nhiệm hình sự nếu được thực hiện với mục đích thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đến danh tiếng của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Phạm nhân sẽ chịu trách nhiệm hình sự vì những hành vi vi phạm này, đồng thời gây tổn hại cho cơ quan, tổ chức và cá nhân mà họ tác động, đe dọa uy tín của chúng và gây ảnh hưởng đến sự tin cậy của công chúng

- Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, mà điều này có thể diễn ra bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Điều quan trọng là họ có kiến thức rõ ràng về những hậu quả có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan. Tuy nhiên, họ có thể có mục tiêu cố ý thực hiện hành vi này để đạt được kết quả mà hậu quả của nó sẽ gây ra, hoặc họ có thể không mong muốn những hậu quả này xảy ra, nhưng vẫn chấp nhận rủi ro và có ý thức về việc hậu quả có thể xảy ra dưới tác động của hành vi của họ.

Các tội phạm liên quan đến ma túy bao gồm sản xuất, buôn bán và sử dụng trái phép các chất gây nghiện. Đây là một ngành công nghiệp đen đầy rủi ro, gây ra nhiều tác động tiêu cực cho sức khỏe cộng đồng và gây hủy hoại các gia đình và cuộc sống cá nhân. Những hành vi tội phạm này là những hành vi có ý định và cố ý, mang tính chất xâm phạm và gây hại cho xã hội. Cần có những biện pháp chặt chẽ để ngăn chặn và trừng phạt tội phạm này, đảm bảo an ninh và sự phát triển bền vững cho cộng đồng

- Chủ thể: Chủ thể của tội phạm không chỉ bao gồm những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên, mà còn có thể bao gồm các cá nhân và tổ chức khác có thể phạm tội theo quy định của luật pháp. Trong ngữ cảnh này, những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên có thể thực hiện các hành vi phạm tội và chịu trách nhiệm hình sự cho những hành vi đó. Đây là độ tuổi mà luật pháp công nhận sự hiểu biết và khả năng đánh giá đúng sai của cá nhân, đồng thời cho phép xác định trách nhiệm pháp lý cho hành vi phạm tội.

Tuy nhiên, không chỉ những cá nhân trên 16 tuổi mới có thể phạm tội. Các tổ chức, công ty và các tập thể khác cũng có thể thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng. Ví dụ, một tổ chức có thể phạm tội bằng cách vi phạm các quy định về môi trường, gian lận tài chính hoặc vi phạm quy định an toàn lao động. Do đó, chủ thể của tội phạm không chỉ hạn chế trong ngưỡng độ tuổi, mà còn bao gồm các cá nhân, tổ chức và tập thể khác có khả năng thực hiện hành vi phạm tội và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của luật pháp

- Khách thể: Khách thể của tội phạm không chỉ giới hạn trong nguyên tắc tuổi trưởng thành mà còn bao gồm các cá nhân, tổ chức và tập thể khác có khả năng vi phạm quy định về đảm bảo an toàn mạng máy tính, mạng viễn thông và mạng internet của nhà nước.

Các tội phạm liên quan đến việc xâm phạm vào quy định an toàn mạng được thực hiện bởi những cá nhân hoặc tổ chức có khả năng thực hiện các hành vi vi phạm. Điển hình là việc xâm nhập vào hệ thống mạng máy tính, vi phạm quyền truy cập trái phép, phá hoại hệ thống, tấn công mạng, hoặc vi phạm các quy định bảo mật và quản lý thông tin trên mạng.

Theo phân tích trên có thể hiểu rằng hành vi bán thông tin khách hàng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Hình sự nă 2015.

3. Chế tài xử phạt hành vi bán thông tin khách hàng

- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm trong trường hợp: thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50 đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 100  đến dưới 500 triệu đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc một trong các trường hợp theo quy định; mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó; hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông.

- Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm trong trường hợp: Có tổ chức; lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông; thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên; gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên; xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ đối ngoại của Việt Nam; dẫn đến biểu tình.

- Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bài viết liên quan: ngân hàng làm lộ thông tin khách hàng phải chịu những trách nhiệm gì 

Hotline: 1900.6162 

Email: lienhe@luatminhkhue.vn