1. Hành vi bán thuốc chữa bệnh giả có bị nghiêm cấm không ?
Thuốc chữa bệnh là các loại sản phẩm được sử dụng để điều trị hoặc giảm triệu chứng của các bệnh, tình trạng bệnh lý hoặc rối loạn sức khỏe. Chúng thường được sản xuất và phân phối bởi các công ty dược phẩm hoặc tổ chức y tế có chức năng nghiên cứu, thử nghiệm và chứng minh hiệu quả và an toàn của thuốc. Thuốc chữa bệnh có thể bao gồm các dạng như viên nén, viên sủi, bột, dung dịch, dầu, kem, thuốc tiêm và các dạng khác. Chúng được điều chế từ các thành phần hoạt chất có khả năng tác động lên cơ thể hoặc bệnh lý nhất định để điều trị và làm giảm triệu chứng của bệnh. Các loại thuốc chữa bệnh được
Thuốc chữa bệnh giả là thuốc được làm giả, nhái hoặc kém chất lượng và không đáp ứng được các tiêu chuẩn và yêu cầu của cơ quan quản lý thuốc. Điều này có thể bao gồm các sản phẩm không có dược chất, có dược chất không đúng với nhãn ghi trên sản phẩm, không đủ lượng dược chất, hay được đóng gói giả mạo.
Thuốc chữa bệnh giả là một vấn đề nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng của người sử dụng. Chúng có thể không có hiệu quả chữa bệnh, hoặc thậm chí có thể gây ra tác dụng phụ và gây hại nghiêm trọng cho sức khỏe người dùng. Việc sử dụng thuốc chữa bệnh giả có thể dẫn đến việc không điều trị được bệnh tình, gây trì hoãn trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý, và gây mất lòng tin vào hệ thống y tế.
Do đó, việc kiểm tra và đảm bảo chất lượng của thuốc chữa bệnh là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe của cộng đồng. Các cơ quan quản lý thuốc và tổ chức y tế trong mỗi quốc gia có trách nhiệm giám sát và kiểm soát để ngăn chặn sự xuất hiện và lưu thông của thuốc chữa bệnh giả trên thị trường.
Tại Việt Nam, khái niệm về thuốc giả được căn cứ vào điểm c khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 và các khoản 33, khoản 34 Điều 2 Luật Dược năm 2016. Theo đó, thuốc giả là thuốc được sản xuất khi thuộc vào một trong các trường hợp như: không có dược chất, dược liệu; hay có dược chất không đúng với dược chất ghi trên nhãn hoặc theo tiêu chuẩn đã đăng ký lưu hành hoặc ghi trong giấy phép nhập khẩu; hoặc có dược chất, dược liệu nhưng không đúng hàm lượng, nồng độ hoặc khối lượng đã đăng ký lưu hành hoặc ghi trong giấy phép nhập khẩu, trừ thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng quy định tại khoản 32 Điều này trong quá trình bảo quản, lưu thông phân phối; hoặc trong trường hợp được sản xuất, trình bày hoặc dán nhãn nhằm mạo danh nhà sản xuất, nước sản xuất hoặc nước xuất xứ. Còn dược liệu giả là dược liệu thuộc một trong các trường hợp sau: không đúng loài, bộ phận hoặc nguồn gốc được cơ sở kinh doanh cố ý ghi trên nhãn hoặc ghi trong tài liệu kèm theo; bị cố ý trộn lẫn hoặc thay thế bằng thành phần không phải là dược liệu ghi trên nhãn; dược liệu bị cố ý chiết xuất hoạt chất; được sản xuất, trình bày hoặc dán nhãn nhằm mạo danh nhà sản xuất, nước sản xuất hoặc nước xuất xứ.
Tại điểm a khoản 5 Điều 6 Luật Dược năm 2016, những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động kinh doanh dược có bao gồm hành vi kinh doanh dược là thuốc giả, nguyên liệu làm thuốc giả. Việc sản xuất, kinh doanh các loại hàng giả thông thường cũng đã là hành vi trái pháp luật, vi phạm đến quyền lợi của người tiêu dùng. Nhưng khi đối tượng hàng hóa bị làm giả là thuốc phòng bệnh, thuốc chữa bệnh thì nó lại là một vấn đề nghiêm trọng hơn rất nhiều vì thuốc giả sẽ được sử dụng trực tiếp bằng cách uống, bôi hoặc đưa vào cơ thể bằng tiêm, truyền. Có những loại thuốc giả được làm ra chỉ không có đúng khả năng phòng bệnh, chữa bệnh của thuốc. Nhưng cũng có những loại thuốc làm giả còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe thậm chí là tính mạng của người sử dụng.
Tổng kết lại, thuốc giả là một vấn đề nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe con người. Hành vi sản xuất, buôn bán thuốc giả là vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính hoặc hình sự, tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm. Thuốc giả có thể gây hại nghiêm trọng cho sức khỏe và tính mạng người sử dụng, do đó, cần có sự quản lý chặt chẽ và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực này.
2. Bán thuốc chữa bệnh giả bị xử phạt hành chính như nào?
Căn cứ vào Điều 9 Nghị định 98/2020/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi khoản 5 Điều 13 Nghị định 17/2022/NĐ-CP thì đối với hành vi buôn bán hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng theo pháp luật thì mức phạt tiền được quy định như sau:
- Phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 03 triệu đồng khi số lượng hàng giả có trị giá dưới 03 triệu đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp dưới 05 triệu đồng.
- Phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng khi số lượng hàng giả có trị giá từ 03 triệu đồng đến dưới 05 triệu đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 05 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng.
- Phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng khi hàng giả có trị giá từ 05 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 10 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng.
- Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng khi hàng giả có trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 20 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng.
- Phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng khi hàng giả có trị giá từ 20 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.
- Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng khi hàng giả có trị giá từ 30 triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 50 triệu đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối tượng vi phạm, dựa theo nội dung trên, sẽ phải chịu chế tài hành chính theo mức phạt tiền được quy định tùy thuộc vào giá trị hàng giả và nguồn thu bất hợp pháp. Các cá nhân sẽ bị phạt từ 1 triệu đồng đến 70 triệu đồng, trong khi các tổ chức sẽ bị phạt từ 2 triệu đồng đến 140 triệu đồng.
3. Bán thuốc chữa bệnh giả dẫn đến chết người có bị tù chung thân hay không?
Hành vi buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh được định nghĩa là thực hiện các hoạt động liên quan đến chào hàng, giới thiệu, quảng cáo, lưu giữ, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu hàng giả vào lưu thông.
Hậu quả của hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh bao gồm thiệt hại về thể chất (như mất tính mạng, tổn hại sức khỏe) và thiệt hại về vật chất (như mất tài sản).
Tội buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh không bắt buộc phải có hậu quả để cấu thành tội. Tuy nhiên, nếu hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, nó sẽ được xem là yếu tố định khung hình phạt.
Hành vi buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh được coi là hình thức lỗi cố ý trực tiếp, với động cơ chủ yếu là vụ lợi. Động cơ và mục đích của tội phạm không phải là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội, nhưng nó có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.
Đối với tội buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh gây hậu quả chết người, hình phạt được quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự. Theo đó:
- Hành vi làm chết người sẽ bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
- Hành vi làm chết 02 người trở lên sẽ bị phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, tịch thu tài sản.
Tóm lại, hành vi buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh là một tội phạm hình sự, và hình phạt áp dụng phụ thuộc vào tính chất và hậu quả của hành vi, từ mức phạt tiền đến án tử hình.
Tham khảo thêm:Hàng giả là gì ? Khái niệm về hàng giả được hiểu như thế nào ? Vui lòng liên hệ với Luật Minh Khuê qua gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng.