Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Cơ sở pháp lý: 

- Hiến pháp năm 2013

- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

1. Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm thân thể

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 ghi nhận nguyên tắc: “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện” (Điều 9)[1]. Công ước quốc tế vể các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định cụ thể hơn: “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định. Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt vê' những lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ. Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra Tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do. Việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại Tòa án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kết tội.

Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước Tòa án, nhằm mục đích để Tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp. Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường” (Điều 9).

2. Hiến pháp Việt Nam và quyền bất khả xâm phạm thân thể

Về bảo vệ quyền bất khả xâm phạm vể thân thể của công dân, khoản 1 Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đổi xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người được ghi nhận tại Điểu 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nội dung của quyền này là không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người. Quy định này đòi hỏi các cơ quan và người tiến hành tố tụng hình sự khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn hay biện pháp cưỡng chế phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Chỉ có hai cơ quan là Tòa án và Viện kiểm sát mới có thẩm quyển quyết định hoặc phê chuẩn lệnh bắt người. Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cấp trưởng của cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nếu ra lệnh bắt người thì phải được Viện kiểm sát nhân dân phê chuẩn trước khi thi hành (trừ trường hợp phạm tội quả tang). Mọi trường hợp bắt người không có căn cứ, không đúng thẩm quyền đều bị coi là vi phạm nghiêm trọng pháp luật và phải bị xử lý theo pháp luật.

3. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm thân thể trong tố tụng hình sự

Pháp luật tố tụng hình sự cũng nghiêm cấm những hành vi xâm phạm đến quyền này như tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất cứ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của người bị buộc tội. Theo Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984 thi: “Tra tấn là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về mặt thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện hoặc để đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức”.

Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định tội danh tra tấn và không đưa ra khái niệm “tra tấn” nhưng khi có hành vi tra tấn xảy ra, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bức cung và dùng nhục hình với hình phạt rất nặng, cao nhất là tù chung thân vì đó là những hành vi vi phạm rất nghiêm trọng quyền con người.

3.1. Quy định về tội nhục hình

Theo Điều 373 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: a) Phạm tội 02 lần trở lên; b) Đối với 02 người trở lên; c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại vê' sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; b) Làm người bị nhục hình tự sát, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

Trường hợp phạm tội làm người bị nhục hình chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Còn Điều 374 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Nếu phạm tội thuộc một trong những trường hợp: a) Phạm tội 02 lần trở lên; b) Đối với 02 người trở lên; c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; d) Dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung; đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; e) Dẫn đến làm sai lệch kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; g) Ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai sai sự thật, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: a) Làm người bị bức cung tự sát; b) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: a) Làm người bị bức cung chết; b) Dẫn đến làm oan người vô tội; c) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Ngoài ra, nếu có căn cứ để xác định có việc bức cung, dùng nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật thì đó sẽ là một trong những căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung (Điểu 245 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22-12-2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung).

3.2. Quy định căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn

Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, để chứng minh tội phạm và người phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh để hạn chế một phần quyền bất khả xâm phạm thân thể của người bị buộc tội nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm để thu thập chứng cứ và bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được tiến hành thuận lợi.

Khoản 1 Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định căn cứ chung để áp dụng các biện pháp ngăn chặn gồm:

1) để kịp thời ngăn chặn tội phạm;

2) hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội;

3) hoặc để bảo đảm thi hành án.

Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định các căn cứ áp dụng từng biện pháp ngăn chặn riêng, áp dụng đối với việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, tạm giam.

- Giữ người trong trường hợp khẩn cấp: Bộ luật Tố tụng hình sự quy định chặt chẽ chỉ được giữ người khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây: 1) Có đủ căn cứ để xác định người đó (hoặc một số người) đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; 2) Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; 3) Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Phạm vi chủ thể có thẩm quyển giữ người cũng được quy định chặt chẽ nhằm chống lại sự tùy nghi, lạm dụng, xâm phạm quyền con người, quyển công dân.

- Bắt người phạm tội quả tang: được tiến hành đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

- Đối với người đang bị truy nã: thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Cống an,
Viện kiểm sát hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

- Tạm giữ: có thể được áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thi Cơ quan điểu tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

- Tạm giam: là một trong các biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất nhằm hạn chế quyền tự do của công dân, chỉ áp dụng khi các biện pháp ngăn chặn khác không thể đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Đối tượng bị bắt để tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo.

Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam được xác định dựa vào việc phân loại tội phạm và được quy định chặt chẽ, cụ thể là đối với:

- Bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

- Bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

+ Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

+ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

+ Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

+ Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định trường hợp bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm, nhưng nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã thì có thể áp dụng biện pháp tạm giam.

Việc áp dụng biện pháp tạm giam còn được thực hiện khi có căn cứ chứng tỏ bị can có khả năng bỏ trốn, tiếp tục phạm tội, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.

Tuy nhiên, với tinh thần nhân đạo, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định đối với bị can, bị cáo là phụ nữ, người già yếu, người bị bệnh nặng, mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì việc tạm giam có hạn chế hơn, thay vào đó là áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác trừ khi họ bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, họ tiếp tục phạm tội; hoặc có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này; các bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh
quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đổi với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

Để bảo đảm quyển của người bị tạm giam, khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xấ, phường, thị trấn và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người. Không được bắt người vào ban đêm.

Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam. Thời hạn tạm giam có thê’ được gia hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì Cơ quan điều tra phải kịp thời để nghị Viện kiểm sát hủy bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người bị tạm giam phải được trả tự do.

Vì yêu cầu bảo vệ quyền con người trong việc bắt, giam, giữ, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật tại Điều 377 với hình phạt nghiêm khắc, cao nhất là 12 năm tù giam.

Theo đó, người nào có một trong các hành vi: lợi dụng chức vụ, quyền hạn không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật; quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật; không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật; Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành; Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: a) Giam, giữ trái pháp luật từ 02 người đến 05 người; b) Làm người bị giam, giữ trái pháp luật bị tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; c) Làm người bị giam, giữ hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn; d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: a) Giam, giữ trái pháp luật 06 người trở lên; b) Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc chết; c) Làm người bị giam, giữ tự sát; d) Làm gia đình người bị giam, giữ ly tán, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung "Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong tố tụng hình sự". Bạn đọc có vướng mắc pháp lý cần được hỗ trợ vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm & biên tập)