- Trả lời:
- 1. Cơ sở pháp lý:
- 2. Khái niệm về Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong Tố tụng hình sự
- 3. Quy định về Quyền bất khả xâm phạm về thân thể
- 4. Điều kiện đảm bảo thực hiện quyền bất khả xâm phạm về thân thể
- 4.1. Về thực thi pháp luật
- 4.2. Về chất lượng của cơ quan có thẩm quyền tham gia điều tra
- 4.3. Về cơ sở vật chất phục vụ điều tra
Trả lời:
Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
2. Khái niệm về Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong Tố tụng hình sự
Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được hiểu là những tư tưởng, quan điểm cơ bản, chủ đạo, chi phối hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong các hoạt động tiếp nhận, giải quyết thông tin về các mảng như tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, và các thủ tục về thi hành án hình sự. Các nguyên tác cơ bản của tố tụng hình sự được thể chế hóa thành những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (từ Điều 7 đến Điều 33 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).
Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể đã được quy định ở Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam và ghi nhận ở Điều 10. Dựa trên cơ sở Hiến pháp 2013 và sự kế thừa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Tất cả mọi cá nhân đều được đảm bảo quyền lợi về bất khả xâm phạm đến thân thể của mình, không có bất cứ ai có quyền được xâm hại các quyền lợi đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác dưới mọi hình thức, quyền tự do cá nhân của công dân cũng được đảm bảo thể hiện ở chỗ không ai có quyền bắt giữ nếu không thuộc trường hợp pháp luật cho phép như có quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân trừ trường hợp cá nhân đó vi phạm pháp luật bị bắt quả tang. Mọi cá nhân có quyền thực hiện việc hiến mô và bộ phận trên cơ thể người và hiến xác nhằm mục đích nhân đạo theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện thử nghiệm y học hoặc bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác đối với cơ thể con người thì bắt buộc phải được sự đồng ý của người được thử nghiệm.
3. Quy định về Quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Bên cạnh các quy định của Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 (UDHR) và Công ước về các nhân quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) thì Hiến pháp Việt Nam 2013 cũng có quy định về quyền con người, điển hình tại Điều 20 có quy định như sau:
“1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.
3. Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của pháp luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm”.
Theo đó, khoản 1 Điều 371, khoản 1 Điều 372, khoản 1 Điều 373, khoản 1 Điều 374 Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định các hình phạt cho người có thẩm quyền lạm dụng trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp khác mà làm đối xử tàn bạo với bất cứ một hình thức nào.
Quyền con người trong Tố tụng hình sự là quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, đó là: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người phải chấp hành hình phạt và quyền của những người tham gia Tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án, như: người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người bào chữa,…Những người này khi tham gia vào các hoạt động Tố tụng hình sự cho dù với tư cách nào thì họ vẫn được pháp luật bảo vệ và tôn trọng những quyền cơ bản nhất thiết của con người như quyền được tôn trọng về nhân phẩm, quyền không bị tra tấn, đánh đập khi bị giam giữ, bị chấp hành án phạt tù.
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong Tố tụng hình sự được quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về vấn đề Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể:
“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kì hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe con người.”
Người bị bắt, bị tam giữ, bị can, bị cáo, cho dù hành vi của họ có dấu hiệu tội phạm nhưng quyền bất khả xâm phạm về thân thể của họ vẫn phải được tôn trọng và được bảo đảm bởi cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng giải quyết các vụ án. Quy định “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể” là quy định chung nhất, nhấn mạnh nội dung này đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh khi tiến hành tố tụng giải quyết các vụ án.
Trong một số trường hợp cần thiết quyền tự do thân thể bị hạn chế nhất định. Tước đi sự tự do là cần thiết khi một người có hành vi xâm hại tự do, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khác hoặc xâm phạm đến lợi ích công cộng nhưng vẫn cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự.
Quy định “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.”. Đòi hỏi ở nguyên tắc này là việc bắt người phải có căn cứ, đúng thẩm quyền, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Để đảm bảo cho quyền bất khả xâm phạm về thân thể, không cho phép bắt người một các tùy tiện. Việc bắt, giam giữ được coi là tùy tiện khi không dựa vào các thủ tục luật định hoặc các cơ quan có thẩm quyền. Sẽ bị coi là bắt, giam giữ người tùy tiện khi việc bắt, giam giữ không thích đáng, không công bằng và bất thường không có tính minh bạch. Trong những trường hợp như vậy thì các nạn nhân có quyền khiếu nại và quyền được yêu cầu bồi thường cho những thiệt hại do việc bắt, giam giữ tùy tiện. Chỉ có toà án hoặc viện kiểm sát mới có thẩm quyền quyết định hoặc phê chuẩn lệnh bắt. Trưởng cơ quan điều tra, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một sổ hoạt động điều tra ra lệnh thì lệnh này phải được viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành.Đồng thời quy định này góp phần vào việc ngăn ngừa những trường hợp bắt, giam, giữ trái pháp luật đe doạ sự bất khả xâm phạm về thân thể của con người.
Việc lấy chứng cứ, lời khai bằng hình thức tra tấn, bức cung, dùng nhục hình để xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của người khác sẽ không được công nhận và cấu thành tội phạm được quy định ở Bộ luật hình sự 2015 tại Điều 373 Tội dùng nhục hình và Điều 374 Tội bức cung. Hình phạt tù của hai tội này đều là từ 06 tháng đến 03 năm.
4. Điều kiện đảm bảo thực hiện quyền bất khả xâm phạm về thân thể
4.1. Về thực thi pháp luật
Để bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân pháp luật Việt Nam đã có những quy định trong Hiến pháp, pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Những gì pháp luật quy định là điều kiện, cơ sở pháp lý để thực thi bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Các chế định bắt, tạm giữ, tạm giam, hỏi cung bị can có liên quan đến thủ tục tiến hành tố tụng hình sự và những quyết định, phê chuẩn có ảnh hưởng đến quyền bất khả xâm phạm thân thể được quy định dựa trên khoa học, thực hiện một cách cụ thể và thống nhất để đảm bảo quyền này.
Trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền công dân cũng có ít nhiều những ảnh hưởng đến quyền bất khả xâm phạm thân thể. Hệ thống quyền con người cũng đảm bảo cho sự đảm bảo tự do, dân chủ và công lý trong xã hội của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Điều này được thể hiện ở Nghị quyết số 48 NQ-TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Đây được coi là văn kiện pháp lý quan trọng để định hướng các giải pháp cơ bản trong việc xây dựng hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật. Các hệ thống pháp luật phải rõ ràng, minh bạch, công khai, công bằng để bảo vệ và đảm bảo quyền con người nói chung và quyền bất khả xâm phạm thân thể nói riêng.
4.2. Về chất lượng của cơ quan có thẩm quyền tham gia điều tra
Những người có thẩm quyền tham gia làm công tác điều tra như Điều tra viên, Kiểm sát viên…phải đạt trình độ chuyên môn cao, có đạo đức nghề nghiệp, có tư chất thì mới đảm bảo quyền con người trong các vụ án điều tra. Điều này đề ra tiêu chuẩn đối với việc tuyển dụng cao, song song với tuyển dụng thì cần phải thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các thành phần này. Nhà nước cũng cần có những cơ chế, chính sách hỗ trợ, động viên những người làm công tác điều tra để những cá nhân trong cơ quan này có thêm ý chí và nghị lực để làm việc tốt hơn.
Công tác điều tra rất quan trọng đối với việc bảo vệ bất khả xâm phạm về thân thể trong vụ án tố tụng hình sự. Để thực hiện lấy lời khai một cách chính xác nhất mà không được dùng những hành vi nghiêm cấm bằng hình thức tra tấn, bức cung, dùng nhục hình để xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe đòi hỏi người tham gia công tác điều tra có trình độ nghiệp vụ tốt, chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức vững chắc để hoàn thành nhiệm vụ của người điều tra.
Vậy nên, hoạt động của cơ quan có thẩm quyền tham gia điều tra là hoạt động để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền, bảo vệ công lý, biết cân đối giữa pháp luật với con người sao cho thực hiện tốt pháp luật nhưng cũng không đánh mất đi quyền con người.
4.3. Về cơ sở vật chất phục vụ điều tra
Bên cạnh việc cần có nền tảng pháp luật tốt, có cơ quan tham gia điều tra có năng lực tốt thì chúng ta cũng cần có cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ điều tra tốt. Cơ sở kỹ thuật của cơ quan điều tra, các công cụ, phương tiện, các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác điều tra cũng được coi là một yếu tố quan trọng để phục vụ điều tra.
* * * * *
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Tư vấn Pháp luật Công ty Luật Minh Khuê.