1. Pháp luật quy định như thế nào về quyền bất khả xâm phạm về thân thể?

Tự do thân thể và từ đó, sự bất khả xâm phạm về thân thể là giá trị cao nhất của mỗi con người, là một trong những quyền hiến định đầu tiên của con người. Hiến pháp năm 2013 của nước ta khẳng định:

"Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định" (khoản 1 và 2 Điều 20).

Theo Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định:

“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người”.

2. Chế định quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong BLTTHS 2015

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một chế định quan trọng của tố tụng hình sự bao gồm một loạt các quy phạm quy định về tự do thân thể, nhằm ngăn ngừa những trường hợp bắt, giam, giữ cũng như việc áp dụng trái pháp luật các biện pháp cưỡng chế khác đe dọa sự bất khả xâm phạm về thân thể con người. Cùng với các chế định tương tự như quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; chế định về an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân; chế định về quyền bất khả xâm phạm thân thể hợp thành cơ sở pháp lý tố tụng vững chắc bảo đảm sự tự do và an toàn cho con người khi rơi vào những bối cảnh phải đối diện với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.

Quyền bất khả xâm phạm được mở rộng phạm vi so với trước đây, gồm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia (đình, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

3. Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể

Nguyên tắc về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể xác định rõ điều kiện, giới hạn, trình tự, thủ tục cho khả năng có thể xảy ra là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện những biện pháp hạn chế quyền hiến định của con người, của công dân. Đòi hỏi của nguyên tắc này bao gồm những yếu tố sau đây:

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong tố tụng hình sự đặt ra yêu cầu về tính hợp pháp của việc bắt, tạm giữ, tạm giam, những biện pháp đó phải dựa trên cơ sồ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quy định của Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 tại Điều 9 nói về quyền được bảo vệ để khởi bị bắt, giam, giữ tùy tiện. Đòi hỏi của nguyên tắc này được đặt ra trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn mà đối tượng áp dụng là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị can, bị cáo. Những căn cứ pháp luật cho việc thực hiện các biện pháp bắt, giam giữ cũng như chủ thể, thẩm quyền. Thủ tục tiến hành các biện pháp này được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (từ Điều 109 đến Điều 125). Mọi hành vi và quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn không đúng đối tượng, căn cứ, thẩm quyền và trình tự, thủ tục được quy định ở các điều luật trên đây đều bị coi là vi phạm pháp luật.

- Về thẩm quyền: chỉ có Tòa án hoặc Viện kiểm sát mối có thẩm quyền quyết định hoặc phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người theo những thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Chẳng hạn, theo Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (giữ nguyên trong trường hợp khẩn cấp), lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ người bị giữ, lý do và căn cứ giữ người theo quy định tại khoản 1 của Điều này và lệnh bắt người bị giữ đó phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn. Về phía Viện kiểm sát, phải kiểm sát chặt chẽ về căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp; trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt người.

Những đòi hỏi và điều kiện chi tiết, cụ thể như vậy cũng được đặt ra đối với các trường hợp thực hiện các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế khác.

Những biện pháp ngăn chặn hoặc cưỡng chế tố tụng hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể chỉ được áp dụng trong một thời hạn nhất định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Chẳng hạn, đối với việc tạm giữ thì thời hạn tạm giữ là 3 ngày, trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 3 ngày và trường hợp đặc biệt, việc gia hạn lần thứ 2 có thể được thực hiện nhưng cũng không quá 3 ngày. Trong thời hạn 12 giò kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ (Điều 118 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

4. Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cũng là một hình thức hạn chế tự do của con người. Vì vậy, đòi hỏi của nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong tố tụng hình sự cũng được đặt ra trong những trường hợp này nhằm loại trừ sự tùy tiện trong việc áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc.

Những bảo đảm này được đặt ra, bởi:

Thứ nhất, phương thức để xác định căn cứ áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc là kết luận giám định pháp y tâm thần;

Thứ hai, đối tượng để áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trạng thái không có năng lực trách nhiệm hình sự. Những bảo đảm để ngăn ngừa sự tùy tiện trong việc áp dụng biện pháp này gồm: quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử và thi hành án về việc áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc chỉ được áp dụng đối với đối tượng đang là bị can, bị cáo.

5. Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình

Nguyên tắc nêu tại Điều 10 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trong các hoạt động tố tụng hình sự.

Theo Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử khác tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người năm 1984 (sau đây gọi tắt là Công ước chông tra tấn - CAT), tra tấn là: “bất kỳ hành động nào tạo ra sự đau đớn nặng nề hoặc đau khổ - dù thể xác hay tâm thần - do cố ý gây ra cho một người nhằm các mục đích là đạt được thông tin hay một lời thú nhận từ người đó hoặc một người thứ ba trừng phạt người đó vì một hành động mà người đó hoặc người thứ ba đã phạm hoặc bị nghi là đã phạm, hoặc đe dọa, ép buộc người đó hoặc một người thứ ba, hoặc đối với bất kỳ lý do nào dựa trên sự phân biệt đối xử bất kỳ loại nào; khi nỗi đau đớn hay đau khổ như vậy gây ra bởi - hoặc theo sự xúi giục - hoặc với sự đồng ý - hoặc chấp thuận - của một quan chức hoặc người khác hành động trên cương vị chính quyền. Nó không bao gồm sự đau đớn hoặc đau khổ ngẫu nhiên hoặc vốn có khi bị các hình phạt đúng theo luật?” (Điều 1).

Việc cấm tra tấn còn được quy định trong rất nhiều văn kiện của luật nhân quyền và luật hình sự quốc tế từ trước đến nay, trong đó bao gồm: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 (UDHR, Điều 5); Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR, Điều 7); Quy chế Rôma về Tòa án Hình sự quốc tế năm 1998. Theo các văn kiện này, hành vi tra tấn bị cấm tuyệt đối, trong mọi hoàn cảnh, kể cả thời bình, thời chiến và kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia. Bất cứ lý do nào biện minh cho hành vi tra tấn đều không thể chấp nhận. Quy định cấm tra tấn được coi là một quy phạm của luật tập quán quốc tế, có hiệu lực ràng buộc với mọi quốc gia, kể cả những nước chưa tham gia bất cứ điều ước quốc tế nào có liên quan.

Ngày 28-11-2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người.

Bộ luật hình sự năm 2015 của Việt Nam đã quy định hai tội danh: tội dùng nhục hình và tội bức cung. Những quy định này hoàn toàn phù hợp với cam kết của Nhà nước ta với tư cách là nước thành viên của Công ước “phải có các biện pháp hữu hiệu để phòng, chống tra tấn ở bất cứ lãnh thổ nào dưới thẩm quyền pháp lý của mình” (Điều 2 Công ước chống tra tấn của Liên hợp quốc), “bảo đảm rằng tra tấn được coi là một tội phạm hình sự (Điều 4 Công ước chống tra tấn của Liên hợp quốc), theo đó, tội dùng nhục hình được Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 xác định là hành vi trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào (Điều 373). Tội bức cung được xác định là hành vi trong hoạt động tố tụng đã sử dụng thủ đoạn trái pháp luật, ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc (Điều 374).

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)