1. Quy định chung về bảo đảm tiền vay

Trong trường hợp bên vay không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ thì bên cho vay (trái chủ) sẽ xử lí tài sản bảo đảm và số nợ bên vay phải trả được trừ vào giá trị tài sản được xử lí. Do đó, đối tượng bảo đảm tiền vay có thể là tài sản hoặc quyền tài sản trị giá được bằng tiền. Bảo đảm tiền vay là một dạng của bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, được thực hiện thông qua các hình thức như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của bên thứ ba.

Ở Việt Nam theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đều có ý nghĩa bảo đảm để khấu trừ nghĩa vụ. Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lí để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Do các biện pháp bảo đảm tiền vay ngoài mục đích khấu trừ nghĩa vụ trả nợ tiền vay còn nhằm phòng ngừa rủi ro nên các biện pháp bảo đảm tiền vay được quy định gồm hai loại: Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản và các biện pháp phi tài sản.

Biện pháp, bảo đảm tiền vay bằng tài sản gồm: cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay; bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba; bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có đảm bảo bằng tài sản gồm: tổ chức tín dụng chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có đảm bảo bằng tài sản; tổ chức tín dụng thực hiện chỉ định cho vay của Chính phủ (đối với tổ chức tín dụng nhà nước); bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội trong trường hợp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay.

Trong quá trình đổi mới hoạt động của hệ thống tín dụng, pháp luật Việt Nam ngày càng mở rộng quyền của các tổ chức tín dụng trong việc lựa chọn biện pháp đảm bảo tiền vay. Không tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào bảo đảm tiền vay và việc xử lí tài sản bảo đảm tiền vay của các bên.

2. Điều kiện của tài sản bảo đảm

Theo Điều 295 Bộ luật dân sự 2015,Tài sản bảo đảm phải đảm bảo những điều kiện sau đây:

– Tài sản bảo đảm vẫn phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và chỉ loại trừ hai biện pháp bảo đảm là cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu

Khi đưa tài sản trở thành đối tượng của các biện pháp bảo đảm phải đảm bảo tài sản đó thuộc sở hữu của bên bảo đảm. Quy định này nhằm loại bỏ phần nào đó rủi ro cho bên nhận bảo đảm.

>> Xem thêm:  Mẫu bản cam kết về việc bảo đảm an toàn cho công trình liền kề khi xây dựng ? Thủ tục xây dựng công trình ?

– Tài sản có thể được mô tả chung nhưng phải xác định được

Vì tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai nên pháp luật dự liệu quy định tài sản có thể được mô tả chung nhưng phải xác định được.

– Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm

Thông thường giá trị tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm để khi xử lý tài sản bảo đảm thì số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm để thanh toán các nghĩa vụ tài chính khác như chi phí bảo quản, chi phí xử lý tài sản,… Tuy nhiên các bên có thể thỏa thuận giá trị tài sản bảo đảm bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ bảo đảm. Trường hợp này nếu tài sản bị xử lý thì bên nhận bảo đảm có thể chịu thiệt hại khi bên bảo đảm không còn tài sản khác để thanh toán.

– Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành tương tương lai

Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.

Bộ luật Dân sự 2015 cho phép tài sản hình thành trong tương lai được làm tài sản bảo đảm. Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết.

3. Nghĩa vụ được bảo đảm là gì ?

Nghĩa vụ được bảo đảm là quan hệ nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ phải bảo đảm bằng tài sản của mình... bao gồm nghĩa vụ chuyển giao vật; chuyển giao quyền, nghĩa vụ trả tiền hoặc giấy tờ có giá, nghĩa vụ thực hiện công việc khác.

Nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ được xác lập trước khi giao dịch bảo đảm được giao kết. Neu các bên không có thỏa thuận thì nghĩa vụ được bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ, kể cả tiền lãi và bồi thường thiệt hại. Chẳng hạn, sau khi giao kết hợp đồng vay tài sản, các bên xác lập với nhau về biện pháp thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đó thì nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm: vốn gốc, tiền lãi, bôi thường thiệt hại (nếu có). Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận về biện pháp bảo đảm để bảo đảm thực hiện cho nghĩa vụ trong tương lai. Đó là nghĩa vụ phát sinh sau khi giao dịch bảo đảm được giao kết. Chẳng hạn, doanh nghiệp B là khách hàng của ngân hàng A thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã được giao kết nhưng trong hợp đồng thế chấp này, các bên có thỏa thuận tài sản thế chấp được dùng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng tín dụng mà doanh nghiệp B sẽ ký kết với ngân hàng A về sau này.

>> Xem thêm:  Quyền được ưu tiên của các loại xe đặc biệt như thế nào? Trường hợp không nhường đường cho xe ưu tiên bị phạt bao nhiêu?

4. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm

Điều 297 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định:

“Hiệu lực đổi kháng với người thứ ba

1. Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm.

2. Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật này và luật khác có liên quan

Hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm được hiểu là tất cả các chủ thể khác đều phải chấp nhận và tôn trọng các quyền của người nhận bảo đảm. Trường hợp tài sản bị xử lý để thanh toán các nghĩa vụ thì người nhận bảo đảm có-quyền ưu tiên trước những người có quyền khác.

Thông thường, khi đãng ký biện pháp bảo đảm thì phát sinh hiệu lực đói kháng với người thứ ba. Ngoài ra, một số biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng từ thời điểm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm.

5. Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm

Thứ tự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ bằng số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm chỉ phải đặt ra trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ khác nhau.

Trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ khác nhau thì một trong các bên nhận bảo đảm có quyền xừ lý tài sản nếu nghĩa vụ mà họ là bên có quyền đến hạn mà không được thực hiện. Các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lí tài sản. Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản nếu các bên cùng nhận bảo đảm không có thoả thuận khác. Nếu các bên muốn tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn thì có thể thoả thuận về việc bên bảo đảm dùng tài sản khác để bảo đảm việc thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn.

Khi xử lý tài sản trong trường hợp nói trên cần phải xác định thứ tự ưu tiên thanh toán cho các bên cùng nhận bảo đảm theo quy định tại Điều 308 Bộ luật dân sự năm 2015.

6. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

>> Xem thêm:  Thực hiện pháp luật là gì? Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện pháp luật của Công dân là gì?

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những yếu tố, cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức bồi thường.

Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) không quy định cụ thể các Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) bởi mục đích của việc áp dụng trách nhiệm là khôi phục tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại, do đó không có thiệt hại thì không đặt ra vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điểu kiện khác.

Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức.

Xác định thế nào là thiệt hại dựa vào các nội dung sau:

– Thiệt hại về tài sản: biểu hiên cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chăn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản. Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại.

– Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe làm phát sinh thiệt hại về vật chất: gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe.

– Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại: gồm chi phí hợp lí để ngăn chăn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.

– Tổn hại về tinh thần.

>> Xem thêm:  Tài sản bảo đảm là gì ? Nguyên tắc xử lý tài sản đảm bảo? Thủ tục xử lý tài sản bảo đảm?

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trường hợp bên bị vi phạm được quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường những thiệt hại xảy ra không phải do vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng. Theo Bộ luật dân sự 2015, điều kiện xảy ra bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là:

– Có thiệt hại thực tế xảy ra (thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp)

– Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật (xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác)

– Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

Ngoài ra, khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần quan tâm đến yếu tố lỗi các bên. Lỗi của người vi phạm là là một trong những điều kiện có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt thiệt hại chứ không phải là yếu tố bắt buộc. Theo Bộ luật dân sự 2015:

“Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

Như vậy, trong một số trường hợp người chịu trách nhiệm bồi thường phải bồi thường thiệt hại xảy ra không phải do lỗi của mình, ví dụ trong một số trường hợp phải bồi thường thiệt hại do súc vật hoặc cây cối gây ra.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Quyền tố cáo của công dân và việc bảo đảm quyền tố cáo?