1. Nhãn hiệu là gì?

1.1. Bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam

Theo quy định tại Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009, 2019), nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.

Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009, 2019) quy định về điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ, theo đó nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.

Như vậy, theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, thì nhãn hiệu muốn được bảo hộ phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó. Như vậy, nhãn hiệu âm thanh không phải đáp ứng đủ các điều kiện được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.

 

1.2. Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống trong điều ước quốc tế

Nhãn hiệu phi truyền thống là những dấu hiệu không nhìn thấy được như âm thanh, mùi, vị, đã được quy định bảo hộ trong các điều ước quốc tế và pháp luật ở nhiều quốc gia trên thế giới. 

Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc một nhóm doanh nghiệp đó. Dấu hiệu này có thể là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình ảnh, hình, biểu tượng màu sắc hoặc sự kết hợp các màu sắc, hình thức hoặc sự trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm. Dấu hiệu này có thể là sự kết hợp của nhiều yếu tố nói trên. Nhãn hiệu hàng hoá chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng hoặc nhãn hiệu đó không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác được đã được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm.

Khoản 1 Điều 15 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) quy định bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp dấu hiệu, bao gồm dấu hiệu nhìn thấy được (như các chữ cái, các chữ số, các yếu tố hình hoạ) và dấu hiệu không nhìn thấy được (như các chữ cái, các chữ số, các yếu tố hình hoạ) và dấu hiệu không nhìn thấy được (như âm thanh, mùi vị) có khả năng phân biệt hàng hoá dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá.

Hiệp ước Luật Nhãn hiệu được ký năm 1994 quy định rõ rằng Hiệp ước này sẽ không áp dụng cho các dấu hiệu ba chiều đối và đối với các nhãn hiệu không bao gồm các dấu hiệu có thể nhìn thấy, đặc biệt là các dấu âm thanh và các khứu giác.

Theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương đã có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 14 tháng 01 năm 2019, theo đó, không bên nào được yêu cầu, như một điều kiện để được đăng ký, là dấu hiệu phải nhìn thấy được cũng như không Bên nào được từ chối đăng ký một nhãn hiệu chỉ với lý do rằng dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu đó là âm thanh. Thêm vào đó, mỗi Bên phải nỗ lực hết sức để đăng ký nhãn hiệu mùi. Một Bên có thể yêu cầu phải có bản mô tả ngắn gọn và chính xác, hoặc bản thể hiện dưới dạng đồ hoạ, hoặc cả hai nếu phù hợp, của nhãn hiệu.

 

1.3. Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống theo pháp luật Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia quy định cụ thể về việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống. Luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ năm 1946 (Luật Lanham) không có quy định loại trừ nhãn hiệu phi truyển thống trong định nghĩa một nhãn hiệu.

Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, nhãn hiệu phi truyền thống bao gồm nhãn hiệu mùi, nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu vị giác.

Ở Hoa Kỳ, người nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu phi truền thống phải đáp ứng được hai điều kiện về tính chức năng và khả năng phân biệt. cụ thể:

- Tính chức năng: Nhãn hiệu phi truyền thống đăng ký bảo hộ có tính chức năng nếu nó cần thiết cho việc sử dụng hoặc cho mục đích của sản phẩm hoặc cho mục đích của sản phẩm hoặc ảnh hưởng đến giá thành hoặc giá trị của sản phẩm.

- Khả năng phân biệt: Một số nhãn hiệu phi truyền thống có thể về bản chất có khả năng phân biệt. Ví dụ, nhãn hiệu âm thanh có thể mang khả năng phân biệt về bản chất nếu như chúng ngẫu nhiên, độc đáo, có khả năng phân biệt và có thể được sử dụng nhằm tạo ấn tượng trong tâm trí người nghe. Và chỉ cần nghe âm thanh này, người nghe có thể nhận ra sản phẩm hoặc dịch vụ đó có nguồn gốc từ đâu.

 

2. Dịch vụ đăng ký nhãn hiệu tại Luật Minh Khuê

Hiện nay, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định chỉ bảo hộ những dấu hiệu nhìn thấy được làm nhãn hiệu, còn những dấu hiệu không nhìn thấy được, phi truyền thống như âm thanh, mùi, vị vẫn chưa được quy định bảo hộ làm nhãn hiệu.

Tuy nhiên, việc đặt ra các quy định loại trừ nhãn hiệu phi truyền thống trong định nghĩa nhãn hiệu và điều kiện bảo hộ nhãn hiệu, sẽ tạo nên nhiều rào cản và thách thức đối với doanh nghiệp nhất là trong tiến trình hội nhập quốc tế. Vì vậy, việc bổ sung quy định về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống là vô cùng cần thiết

Để được hỗ trợ tư vấn và triển khai dịch vụ đăng ký nhãn hiệu nhanh chóng, Quý khách hàng hãy liên hệ ngay tới Luật Minh Khuê qua số điện thoại 0986 386 648 để được Luật sư Tô Thi Phương Dung hỗ trợ nhanh chóng. Hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn, đội ngũ luật sư chuyên viên của chúng tôi sẽ gửi thư tư vấn sơ bộ và báo giá dịch vụ đăng ký nhãn hiệu tới Quý khách hàng.