- 1. Quyền nhân thân của người lao động là gì?
- 2. Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động
- 3. Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền nhân thân của người lao động:
- 3.1 Đối với người lao động
- 3.2 Đối với người sử dụng lao động
- 3.3 Đối với nhà nước và xã hội
- 4. Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của người lao động
- 4.1 Biện pháp pháp lý
- 4.2 Biện pháp xã hội
- 4.3 Biện pháp kinh tế
Trên thực tế hiện nay, việc vi phạm các quyền nhân thân của người lao động vẫn xảy ra phổ biến. Tình trạng người sử dụng lao động tự ý xử lý kỷ luật, sa thải người lao động trái pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người lao động, không đảm bảo các điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động vẫn diễn ra với số lượng lớn. Do đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền nhân thân của người lao động để có thể nâng cao hiệu quả của việc thực thi pháp luật trên thực tế cũng cô cùng cấp thiết.
1. Quyền nhân thân của người lao động là gì?
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước toàn thể nhân dân tại quảng trường Ba Đình ngày 02 tháng 09 năm 1945 bằng những lời nói bất hủ: "Hới đồng báo cả nước. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không có ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Các bản Hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ đều ghi nhận và mở rộng thêm các quyền công dân cơ bản của người Việt Nam trong đó quyền nhân thân là một phần của khái niệm quyền công dân.
Quyền nhân thân là một bộ phận của quyền con người, quyền dân sự và không thể tách rời khỏi quyền con người. Theo khoản 1 Điều 25 Bộ luật Dân sự mới nhất năm 2015 có quy định rằng:
"Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác".
Người lao động là một cá nhân trong xã hội trước hết họ cũng là một công dân, do đó, họ cũng có những quyền nhân thân cơ bản của một công dân. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 của Liên Hợp Quốc đã chỉ ra các quyền nhân thân của con người, trong đó có người lao động, đó là: quyền làm việc, quyền được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, quyền được thành lập và gia nhập công đoàn, quyền đình công, quyền được hưởng an sinh xã hội kể cả bảo hiệm xã hội, quyền được hưởng một tiêu chuẩn sức khỏe về thể chất và tinh thần,... Như vậy, quyền nhân thân của người lao động theo cách hiểu chung nhất là "những quyền dân sự gắn liền với người lao động, không thể chuyển giao cho người khác trong quá trình tham gia vào Quan hệ lao động trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".
2. Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động
Trong quan hệ lao động luôn tồn tại sự bất bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động. Người lao động bị phụ thuộc về mặt tổ chức, phụ thuộc về kinh tế, phụ thuộc về môi trường làm việc,... Do đó, các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, trong đó có các quyền nhân thân của người lao động khó có thể được đảm bảo. Vì vậy, một trong các nhiệm vụ hàng đầu của pháp luật nói chung và pháp luật lao động nói riêng là phải bảo vệ được người lao động khi tham gia vào các quan hệ lao động.
Bảo có nghĩa là giữ, vệ có nghĩa là chống lại. Bảo vệ nghĩa là "chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn". Theo đó, bảo vệ quyền nhân thân của người lao động theo cách hiểu chung nhất tức "là việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền lao động của người lao động khi tham gia vào mối quan hệ lao động".
Đối tượng của việc bảo vệ quyền nhân thân của người lao động chính là các giá trị nhân thân của người lao động. Tuy nhiên, người lao động được pháp luật lao động bảo vệ quyền nhân thân khi tham gia vào các quan hệ lao động ở đây không phải là mọi công dân như quy định của Hiến pháp hay Bộ luật dâ sự mà chủ yếu là những người lao động tham gia vào quan hệ lao động theo hợp đồng lao động.
3. Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền nhân thân của người lao động:
3.1 Đối với người lao động
Cùng với sự phát triển của xã hội, ý thức của con người càng được nâng cao. Họ ý thức được vị trí, vai trò của mình đối với công việc, cuộc sống và xã hội. Chính vì thế, vấn đề quyền nhân thân càng được coi trọng, đối với người lao động, việc bảo vệ quyền nhân thân của mình khi tham gia vào các quan hệ lao động càng trở lên thiết yếu.
Người lao động luôn ở vào vị trí yếu hơn so với người sử dụng lao động trong quan hệ lao động, do đó các giá trị nhân thân của người lao động có nhiều nguy cơ bị xâm phạm khi người sử dụng lao động lạm dụng vị trí của mình. Vì vậy, các quyền nhân thân của người lao động là vấn đề đáng quan tâm khi họ tham gia vào các quan hệ lao động, người lao động chỉ yên tâm làm việc khi ít nhất các quyền nhân thân của họ được đảm bảo. Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động cũng chính là vảo vệ những giá trị quý giá nhất của họ, bảo vệ những yếu tố khiến cho người lao động không trở thành những công vụ lao động biết đi của người sử dụng lao động.
3.2 Đối với người sử dụng lao động
Tôn trọng, bảo đảm các quyền nhân thân của người lao động là nghĩa vụ và trách nhiệm của người sử dụng lao động. Việc bảo vệ các quyền nhân thân của người lao động không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân những người lao động tham gia quan hệ lao động mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng với chính những người sử dụng lao động.
Thứ nhất, người sử dụng lao động muốn đạt được lợi nhuận của mình khi thiết lập quan hệ lao động phải đảm bảo được các quyền nhân thân của người lao động. Bởi lẽ khi các quyền nhân thân của mình được đảm bảo, người lao động sẽ yên tâm làm việc và cống hiến cho công ty, họ sẽ cảm thấy gắn bó cho công việc, với doanh nghiệp, họ làm việc với ý thức tự nguyện và tình yêu, sự đam mê. Hệ quả là năng suất lao động được nâng cao, sản phẩm tạo ra có chất lượng và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phát triển không ngừng. Đó chính là những lợi ích dành cho người sử dụng lao động.
Thứ hai, bảo vệ tốt các quyền nhân thân của người lao động đồng nghĩa với việc tiết kiệm các chi phí không cần thiết cho người sử dụng lao động như chi phí tuyển dụng, đào tạo lao động mới, chi phí khắc phục hậu quả tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chi phí bồi thường cho người lao động bị xâm hại,...Những chi phí này có thể rất lớn. Ngoài ra việc sản xuất cũng có thể bị đình trệ bởi thời gian dành cho việc giải quyết các hậu quả của việc vi phạm quyền nhân thân của người lao động gây ra. Sản xuất đình trệ sẽ gây thiệt hại về kinh tế cho người sử dụng lao động.
Thứ ba, bảo vệ tốt quyền nhân thân của người lao động còn giúp nâng cao uy tín, tên tuổi của người sử dụng lao động. Để có được uy tín, ngoài thực hiện công tác xã hội như làm từ thiện, đóng góp, gây quỹ,... hay thực hiện quảng cáo. quảng bá sản phẩm, thương hiệu, chú trọng vào việc bảo vệ quyền nhân thân của người lao động cũng là một cách để người sử dụng lao động nâng cao uy tín của mình.
3.3 Đối với nhà nước và xã hội
Quyền nhân thân là một bộ phận của quyền con người, quyền dân sự và không thể tách rời khỏi quyền con người. Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động cũng chính là Nhà nước đang bảo vệ tốt các quyền nhân thân của công dân mình. Bên cạnh đó, khi các quyền nhân thân của người lao động được đảm bảo, họ sẽ yên tâm lao động. Nền sản xuất sẽ phát triển thúc đẩy sự phát triển về kinh tế - nguồn nhân lực chính để duy trì Nhà nước, duy trì hệ thống bộ máy của Nhà nước và xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền của đất nước bảo vệ Nhà nước.
Ngoài ra, bảo vệ quyền nhân thân của người lao động cũng là một cách thức để xây dựng một xã hội, tiến bộ, văn minh, khẳng định vị trí của quốc gia trên thế giới. Một xã hội mà quyền nhân thân của con người nói chung và của người lao động nói riêng được đảm bảo thì xã hội đó được đánh giá là một xã hội văn minh và quốc tế sẽ có cái nhìn khác về xã hội đó, xã hội đó sẽ có vị trí và tiếng nói của mình trên trường quốc tế. Các quan hệ ngoại giao, kinh tế sẽ được thiết lập một cách dễ dàng và xã hối sẽ có điều kiện hội nhập quốc tế với các đất nước, xã hội tiến bộ, văn minh khác nơi mà các quyền nhân thân của con người nói chung và người lao động nói riêng được đề cao và được bảo vệ bằng cả pháp luật và ý thức của chính con người.
4. Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của người lao động
4.1 Biện pháp pháp lý
Nền tảng quan trọng để đảm bảo và thực thi các quyền nhân thân của người lao động chính là hệ thống pháp luật lao động của Nhà nước/ Pháp luật lao động của nước ta là một mặt quy định các quyền của người lao động trong từng lĩnh vực, mặt khác quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong việc tôn trọng và đảm bảo các quyền nhân thân của người lao động, đồng thời cũng quy định các biện pháp nhằm đảm bảo thực thi các quyền này trong thực tế.
Để bảo vệ các quyền nhân thân của người lao động, pháp luật đã xây dựng rất nhiều cơ chế từ đơn giản đến phức tạp, từ mềm dẻo đến cứng rắn, có giá trị thi hành từ thấp đến cao tạo ra sự linh hoạt trong quá trình bảo vệ các quyền nhân thân của người lao động. Tùy thuộc vào từng hoàn cảnh nhất định và từng giai đoạn khác nhau mà người lao động có thể lựa chọn các cơ chế khác nhau để áp dụng sao cho việc giải quyết nhanh chóng, thuận lợi và hợp lý nhất để bảo vệ tối đa các quyền nhân thân của người lao động.
Bên cạnh đó, hệ thống thanh tra cũng được xây dựng trong việc bảo vệ quyền nhân thân của người lao động. Hệ thống thanh tra tập trung vào ba lĩnh vực chính sau: đó là điều kiện làm việc, an toàn lao động và vệ sinh lao động. Hệ thống thanh tra lao động có chức năng thanh tra các đối tượng sau đây: Các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế; Doanh nghiệp sản xuất là hộ kinh doanh cá thể, hộ gia đình có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; Các hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; Các cơ quan hành chính, tổ chức, đơn vị sản xuất và dịch vụ kinh doanh trực thuộc các cơ quan hành chính, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và các tổ chức xã hội khác.
4.2 Biện pháp xã hội
Trước hết khi tham gia vào quan hệ lao động, người lao động có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về các nội dung của hợp đồng lao động. Pháp luật cho phép người lao động có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về công việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi,...để bảo vệ các quyền nhân thân của mình. Hơn ai hết, người lao động sẽ có trách nhiệm để bảo vệ các quyền nhân thân của mình và hợp đồng lao động là nội dung chỉ liên quan đến họ và người sử dụng lao động nên họ sẽ phải tự cân nhắc về các nội dung trong hợp động lao động sẽ ký kết.
Khi bạn tham gia làm việc theo hợp động lao động tại một công ty, khi đó, tập hợp tất cả những người lao động tại công ty đó có quyền thành lập một tổ chức để thay mặt cho mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người lao động theo quyền thành lập một tổ chức để thay mặt cho mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người lao động theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 3, Bộ Luật lao động 2019, cụ thể: "Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
Trong mối quan hệ lao động thường chỉ có hai bên là người sử dụng lao động và người lao động. Do bên người lao động luôn ở trong vị thế yếu hơn nên cần có những tổ chức đứng ra bảo vệ cho những người lao động. Đó là lí do vì sao có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
4.3 Biện pháp kinh tế
Biện pháp kinh tế để bảo vệ quyền nhân thân của người lao động có thể kể đến trong tình hình kinh tế hiện nay đó chính là biện pháp bồi thường thiệt hại đối với người sử dụng lao động.
Bồi thường thiệt hại là một trong những biện pháp kinh tế để bảo vệ quyền nhân thân của người lao động một cách hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường, khi lợi ích kinh tế là mục đích cơ bản của các bên khi tham gia quan hệ lao động. Đối với người lao động, biện pháp bồi thường thiệt hại được áp dụng ở nhiều lĩnh vực như bồi thường thiệt hại do người sử dụng lao động vi phạm về tiền lương, thu nhập; bồi thường thiệt hại do bị ảnh hưởng đến tính mạng sức khỏe và bồi thường thiệt hại do người sử dụng lao động vi phạm hợp đồng lao động. Khi tham gia quan hệ lao động tiền lương luôn là mối quan tâm lớn nhất của người lao động, bởi người lao động mong muốn có được thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình. Vì vậy, nếu người sử dụng lao động có lỗi hoặc gặp rủi ro khách quan, gây ra ngừng việc thì phải trả lương cho người lao động trong thời gian ngừng việc, nếu người sử dụng lao động trậm chả lương cho người lao động thì còn phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do ngân hàng nhà nước quy công bố tại thời điểm trả lương, người sử dụng lao động cũng có trách nhiệm trả đủ lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghit việc trong thời gian điều trị.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các nghĩa vụ lao động, nếu người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ảnh hưởng đến sức khỏe, người lao động cũng được bồi thường. Bởi vậy, ngoài các quyền lợi do Bảo hiểm xã hội chi trả, người lao động còn được người sử dụng lao động bồi thường một khoản tiền tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động của người lao động.
Bên cạnh việc được bồi thường tiền lương, bồi thường về tính mạng sức khỏe, người lao động còn được bồi thường trong trường hợp người sử dụng lao động vi phạm hợp đồng lao động. Quy định này không những góp phần bảo đảm các quyền nhân thân của người lao động mà còn góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người sử dụng lao động.
Trường hợp bạn còn vương mắc cần tư vấn trực tiếp hãy liên hệ qua số hotline của tổng đài luật sư tư vấn, là 1900.6162 để nhận được sự tư vấn các chuyên viên, Luật sư có bề dầy kinh nghiệm về tất cả các lĩnh vực. Luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc và khó khăn mà bạn gặp phải. Rất mong nhận được sự hợp tác từ quý khách hàng. Trân trọng!