1. Bảo vệ quyền sở hữu như thế nào ?

Quyền sở hữu được bảo vệ bằng các quy định của nhiều ngành luật khác nhau nhưng chủ yếu là pháp luật hành chính, pháp luật hình sự và pháp luật dân sự.

Bảo vệ quyền sở hữu bằng pháp luật dân sự được thể hiện ở chỗ: chủ sở hữu có thể tự mình thực hiện các biện pháp bảo vệ phù hợp, ngăn cản nhằm chấm dứt các hành vì xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sân; hoặc thông qua tòa án, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác đòi lại tài sản của mình đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật nếu người đó không tự nguyện trả lại tài sản.

Bảo vệ quyền sở hữu còn có thể được thực hiện bằng việc loại trừ mọi hành vi cản trở chủ sở hữu trong việc thực hiện các quyền năng đối với tài sản. Chủ sở hữu có quyền yêu cầu loại trừ mọi sự vỉ phạm quyền của mình, dù những vi phạm đó không tước quyền chiếm hữu hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra.

2. Những nguyên tắc vê bảo vệ quyền sở hữu

Về nguyên tắc chung, quyền sở hữu tài sản của các chủ thể trong luật dân sự được pháp luật công nhận và bảo vệ. Điều 163 BLDS đã ghi nhận:

"1. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản".

Cùng với việc ghi nhận này và để bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng, khoản 2 Điều 163 Bộ luật dân sựcũng chỉ ra rằng:

"Trường hợp thật cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường".

Trong quá trình thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt theo quy định tại Điều 158 Bộ luật dân sự, không phải bất cứ lúc nào chủ sở hữu cũng có toàn quyền và "độc lập tuyệt đối" với những chủ thể khác. Bởi lẽ, chủ sở hữu cũng đồng thời là chủ thể của các quan hệ xã hội, họ phải sống trong xã hội và cộng đồng. Điều đó có nghĩa là, khi hành xử quyền của mình, trong một số trường hợp chủ sở hữu bị hạn chế bởi một giới hạn nhất định.

Tuy nhiên, để cho chủ sở hữu có được những điêu kiện thuận lợi khi sử dụng các quyền của mình, Bộ luật dân sự cho phép họ có một số quyền nhất định đối với tài sản của người khác và đồng thời cũng phải chịu sự ràng buộc bởi một số nghĩa vụ nhất định để các chủ thể khác được thuận tiện khi sử dụng quyền của mình.

3. Phân tích phương thức bảo vệ quyền sở hữu ?

Pháp luật được coi là công cụ sắc bén và hữu hiệu nhất ttong việc bảo vệ quyền sở hữu, bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện có hiệu quả và hợp lí các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một cách bình thường nhất. Bảo vệ quyền sở hữu chính là biện pháp tác động bằng pháp luật đối với hành vi xử sự của con người, ngăn ngừa những hành vi xâm hại đến chủ sở hữu khi người này hành xử quyền của mình.

Bằng các quy phạm pháp luật, Nhà nước ta xác nhận và quy định phạm vi những quyền năng của một chù sở hữu đối với tài sản của họ. Mặt khác, Nhà nước dùng pháp luật như một công cụ pháp lí để bảo vệ các quyền năng đã được pháp luật công nhận và ngăn ngừa những hành vi xâm phạm đến quyền của các chủ sở hữu. Mọi hành vi xâm phạm của người không phải là chủ sở hữu đều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật. Khi quyền sở hữu bị xâm phạm thì người nào có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu của một chủ thể xác định phải chịu những hậu quả pháp lí tương ứng do Bộ luật dân sự năm 2015 quy định.

Nhà nước ta sử dụng nhiều ngành luật khác nhau để bảo vệ quyền sở hữu. Tuy nhiên, mỗi ngành luật bảo vệ quyền sở hữu theo những phương pháp, cách thức phù hợp với chức năng vốn có của nó.

Luật hành chính bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những thể lệ nhằm quản lí và bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân công dân. Trong một số trường họp, Nhà nước sử dụng biện pháp cưỡng chế bằng bạo lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một cá nhân hay tổ chức nhất định về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định để bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác; hoặc người đó phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của mình hoặc tự do thân thể nhằm bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể khác. Việc áp dụng các biện pháp hành chính (gồm cưỡng chế, phòng ngừa, ngăn chặn) do các cơ quan hành chính nhà nước và trong những trường hợp nhất định do toà án nhân dân quyết định đổi với cá nhân, tổ chức đã có hành vi vi phạm hành chính xâm phạm đến tài sản, quyền sở hữu tài sản hoặc cản hở trái pháp luật chủ sở hữu.

Luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định một số hành vi nhất định xâm phạm đến quyền sở hữu là tội phạm và quy định mức hình phạt tương xứng với những loại hành vi phạm tội đó. Việc bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp hình sự mang tính chất trừng trị, răn đe và giáo dục người vi phạm.

Luật dân sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những phương thức kiện dân sự trước toà án để chủ sở hữu có thể thông qua đó mà đòi lại tài sản của mình đang bị người khác chiếm giữ bất hợp pháp; yêu cầu người khác chấm dứt hành vi cản trở hoặc có quyền yêu cầu ngăn chặn khi chủ sở hữu thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản; hoặc chủ sở hữu có thể đòi người khác phải bồi thường những thiệt hại về tài sản nếu người đó có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình.

Như vậy, mỗi ngành luật đều có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu nhưng mỗi ngành luật không bảo vệ quyền sở hữu một cách hoàn toàn tách biệt mà luôn có sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau. Trong thực tế, nhiều khi phải áp dụng cùng một lúc những quy phạm của hai hay nhiều ngành luật để điều chỉnh và bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp khi bị xâm phạm.

Tuy nhiên, trong các phương thức pháp lí để bảo vệ quyền sở hữu đã nêu trên, phương thức dân sự có vai trò quan trọng và mang những đặc diêm riêng. Đây là phương thức có ý nghĩa thực tế nhất vì nó khôi phục lại tình trạng ban đầu (tình trạng trước khi bị vi phạm) về mặt vật chất cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp.

Theo phương thức kiện dân sự, người khởi kiện để yêu cầu toà án bảo vệ quyền lợi cho mình chính là người bị xâm phạm quyền sở hữu. Người có quyền sở hữu bị xâm phạm có thể là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp. Do đó, phương thức kiện dân sự có những đặc thù sau đây:

- Phương thức này được áp dụng một cách rộng rãi hơn so với các biện pháp khác vì trong nhiều trường hợp không có những khả năng và điều kiện để áp dụng các biện pháp khác.

- Tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho người có quyền dân sự bị xâm phạm tự mình chủ động bằng phương thức giản đơn đề xuất và yêu cầu toà án bảo vệ quyền lợi cho mình.

- Tạo khả năng khắc phục những thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu; bảo đảm khôi phục lại những lợi ích vật chất cho chủ sở hữu như tình trạng ban đầu khi quyền sở hữu chưa bị xâm phạm; ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của chủ sở hữu.

4. Cách thức kiện đòi lại tài sản

Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu toà án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình. Đòi lại tài sản là một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Quyền đòi lại tài sản được quy định tại Điều 166 BLDS:

"Chủ sở hữu, chủ thế có quyền khác đổi với tài sân có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật...”.

Tuy nhiên, đối với những tài sản đang được chiếm hữu bởi chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản (khoản 2 Điều 166).

Những yêu cầu chung trong việc đòi lại tài sản.

- Đối với nguyên đơn: Người kiện đòi lại tài sản phải là chủ sở hữu của tài sản và phải chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp. Nguyên đơn cũng có thể là người có quyền khác đối với tài sản thông qua những căn cứ xác lập quyền được pháp luật quy định, về nguyên tắc chung: Tài sản đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp đã rời khỏi chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản ngoài ý chí của những người này (đánh rơi, bỏ quên, bị mất cắp...) thì chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người đang chiếm hữu bất hợp pháp.

Trong phương thức kiện này, về nguyên tắc, người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và không ngay tình phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người có quyền khác với tài sản. Khi lấy lại tài sản, chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản không phải bồi thường một khoản tiền nào, trừ trường hợp người chiếm hữu không ngay tình phải bỏ ra chi phí hợp lí để sửa chữa tài sản, làm tăng giá trị của tài sản.

- Đối với bị đơn: Người bị kiện phải trả lại tài sản là người đang thực tế chiêm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật không ngay tình như tài sản do trộm cắp, cướp, lừa đảo mà có; biết tài sản đó là của gian nhưng vẫn mua hoặc nhặt được tài sản do chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đánh rơi, bỏ quên... nhưng đã không giao nộp cho cơ quan có ttách nhiệm thì người chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Trong trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật không ngay tình nhưng đã giao tài sản cho người thứ ba thì người thứ ba cũng có nghĩa vụ hoàn ttả tài sản đó nếu chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có yêu cầu hoàn trả.

Tóm lại, khi tài sản rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ thì những người đang thực tế chiếm hữu vật đều phải trả lại tài sản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 581 BLDS, ngoài việc trả lại tài sản nhũng người này còn

"... phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật".

- Nếu bị đơn là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình mà tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu như thông qua một giao dịch có đền bù (mua bán) và theo ý chí của người chiếm hữu có căn cứ pháp luật như người mượn, thuê... của chủ sở hữu. Trong trường hợp này, chủ sở hữu không được kiện đòi lại tài sản ở người đang thực tế chiếm hữu. Chủ sở hữu sẽ kiện người mình đã chuyển giao tài sản theo hợp đồng bồi thường thiệt hại vì đây là trách nhiệm theo hợp đồng. Thực tế hiện nay việc lưu thông hàng hoá tự do và thị trường hàng hoá phong phú đa dạng và rộng lớn, người mua không thể biết nguồn gốc tài sản, cho nên pháp luật cần phải bảo vệ họ;mặt khác, buộc những người có tài sản khi cho thuê, cho mượn, gửi giữ... phải có biện pháp bảo đảm.

- Bị đơn là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình đối với bất động sản và tài sản phải đăng kí quyền sở hữu thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu đòi lại tài sản. Bởi vì đối với những tài sản này, người mua chỉ có quyền sở hữu khi sang tên đăng kí chuyển quyền sở hữu từ người chủ sở hữu. Người thực tế đang có tài sản phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và có quyền yêu cầu người chuyển giao vật cho mình hoàn trả tiền hoặc các lợi ích vật chất mà mình bị thiệt hại.

Trường hợp người chiếm hữu ngay tình thông qua giao dịch với người chủ sở hữu theo quyết định của toà án hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc mua thông qua bán đấu giá thỉ hành án nhưng sau đó những căn cứ trên không còn (bị huỷ, bị sửa) thì người chiếm hữu ngay tình có quyền sở hữu tài sản đã mua. Những trường họp này người mua và người bán hoàn toàn không có lỗi. Ngược lại, lỗi thuộc về cơ quan nhà nước, do vậy, cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm theo Điều 598 BLDS.

Trong quan hệ pháp luật này, lợi ích vật chất của chủ sở hữu và người đang thực tế chiếm giữ vật là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình đều được luật bảo vệ thoả đáng. Đây cũng là một biện pháp cần thiết để bảo đảm lưu thông dân sự và giáo dục tính thận trọng cho chủ sờ hữu khi chuyển giao tài sản cho người khác. Tuy nhiên, chủ sở hữu có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại tài sản ở người mình đã chuyển giao thông qua hợp đồng dân sự. Người được chuyển giao tài sản đã lạm dụng tín nhiệm bán tài sản của người đã chuyển giao cho mình cho người thứ ba phải bồi thường thiệt hại. Người mua hoàn toàn không thể biết (nhiều trường hợp luật cũng không buộc họ phải biết) người bán là người không có quyền bán tài sản đó. Do vậy, xét về hành vi, ý thức của người thực tế chiếm hữu vật bất hợp pháp là họ không có lỗi trong việc mua bán. Luật cho phép người thứ ba ngay tình tiếp tục sử dụng tài sản đó là hợp lí và tránh được sự thông đồng giữa chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp để gây thiệt hại cho người thứ ba. Những người đã thuê, mượn, nhận giữ tài sản của chủ sở hữu mà bán tài sản đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân. Tài sản trong trường hợp này là vật chứng để chứng minh là của chủ sở hữu. Người chiếm hữu hợp pháp của chủ sở hữu đã chuyển giao tài sản cho người thứ ba phải chịu trách nhiệm dân sự với chủ sở hữu bằng trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng.

Trong việc kiện đòi lại tài sản theo quy định tại các điều 166, 167, 168 BLDS, chủ sở hữu được lấy lại tài sản khi có đù các yếu tố sau đây:

- Tài sản rời khỏi chủ sở hữu hay rời khỏi người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ hoặc theo ý chí của họ nhưng người thứ ba có vật thông qua giao dịch không đền bù (cho, tặng, thừa kế theo di chúc).

- Người thực tế đang chiếm giữ tài sản là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình.

5. Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối vói tài sản

Chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình, có quyền khai thác lợi ích vật chất của tài sản để thoả mãn các nhu cầu trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp lụật. Nói cách khác:

"chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đổi với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đen lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác" (Điều 160 Bộ luật dân sự).

Bằng các quy phạm pháp luật cụ thể, Bộ luật dân sự đã tạo điều kiện để các chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện quyền của mình, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp đó và cấm mọi hành vi cản trở trái pháp luật.

Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sàn không thuộc quyền sở hữu của mình theo thoả thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật.

Để thực hiện các quyền năng hợp pháp này,Bộ luật dân sự cho phép chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ, yêu cầu người có hành vi cản trở ttái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó. Ngoài việc công nhận quyền trên, Điều 169 Bộ luật dân sự còn quy định: chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.

Phương thức kiện này nhằm bảo đảm để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự về quyền sở hữu, chế độ sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê