1. Phương thức, cách thức bảo vệ quyền sở hữu

Một trong những phương thức bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, đó là việc pháp luật quy định và công nhận:

"Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đổi với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kì người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật" (Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015).

Quyền tự bảo vệ của chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản còn gắn liền với việc ngăn cản bất kì người nào có hành vi xâm phạm quyên sở hữu, quyền khác đối với tài sàn của mình. Chủ sở hữu còn được quyền trụy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật.

Khi chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản không thể tự mình bảo vệ quyền sở hữu nếu có sự xâm hại thì họ:

"... có quyền yêu cầu toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đổi với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại" (Điều 164 BLDS).

BLDS ghi nhận và phân biệt nhiều phương thức kiện dân sự khác nhau để bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Sự đa dạng của cuộc sống cho chúng ta thấy rằng, sự xâm phạm đến quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản có nhiều nội dung khác nhau cùng với những tình tiết khác nhau. Vì vậy, vấn đề là phải chọn phương thức nào cho phù hợp với mức độ và những tình tiết cụ thể của vụ việc.

2. Cách thức kiện đòi lại tài sản

Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu toà án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình. Đòi lại tài sản là một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Quyền đòi lại tài sản được quy định tại Điều 166 BLDS:

"Chủ sở hữu, chủ thế có quyền khác đổi với tài sân có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật...”.

Tuy nhiên, đối với những tài sản đang được chiếm hữu bởi chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản (khoản 2 Điều 166).

Những yêu cầu chung trong việc đòi lại tài sản.

- Đối với nguyên đơn: Người kiện đòi lại tài sản phải là chủ sở hữu của tài sản và phải chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp. Nguyên đơn cũng có thể là người có quyền khác đối với tài sản thông qua những căn cứ xác lập quyền được pháp luật quy định, về nguyên tắc chung: Tài sản đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp đã rời khỏi chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản ngoài ý chí của những người này (đánh rơi, bỏ quên, bị mất cắp...) thì chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người đang chiếm hữu bất hợp pháp.

>> Xem thêm:  Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

Trong phương thức kiện này, về nguyên tắc, người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và không ngay tình phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người có quyền khác với tài sản. Khi lấy lại tài sản, chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản không phải bồi thường một khoản tiền nào, trừ trường hợp người chiếm hữu không ngay tình phải bỏ ra chi phí hợp lí để sửa chữa tài sản, làm tăng giá trị của tài sản.

- Đối với bị đơn: Người bị kiện phải trả lại tài sản là người đang thực tế chiêm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật không ngay tình như tài sản do trộm cắp, cướp, lừa đảo mà có; biết tài sản đó là của gian nhưng vẫn mua hoặc nhặt được tài sản do chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đánh rơi, bỏ quên... nhưng đã không giao nộp cho cơ quan có ttách nhiệm thì người chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Trong trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật không ngay tình nhưng đã giao tài sản cho người thứ ba thì người thứ ba cũng có nghĩa vụ hoàn ttả tài sản đó nếu chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có yêu cầu hoàn trả.

Tóm lại, khi tài sản rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ thì những người đang thực tế chiếm hữu vật đều phải trả lại tài sản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 581 BLDS, ngoài việc trả lại tài sản nhũng người này còn

"... phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật".

- Nếu bị đơn là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình mà tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu như thông qua một giao dịch có đền bù (mua bán) và theo ý chí của người chiếm hữu có căn cứ pháp luật như người mượn, thuê... của chủ sở hữu. Trong trường hợp này, chủ sở hữu không được kiện đòi lại tài sản ở người đang thực tế chiếm hữu. Chủ sở hữu sẽ kiện người mình đã chuyển giao tài sản theo hợp đồng bồi thường thiệt hại vì đây là ữách nhiệm theo hợp đồng. Thực tế hiện nay việc lưu thông hàng hoá tự do và thị trường hàng hoá phong phú đa dạng và rộng lớn, người mua không thể biết nguồn gốc tài sản, cho nên pháp luật cần phải bảo vệ họ;mặt khác, buộc những người có tài sản khi cho thuê, cho mượn, gửi giữ... phải có biện pháp bảo đảm.

- Bik đơn là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình đối với bất động sản và tài sản phải đăng kí quyền sở hữu thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu đòi lại tài sản. Bởi vì đối với những tài sản này, người mua chỉ có quyền sở hữu khi sang tên đăng kí chuyển quyền sở hữu từ người chủ sở hữu. Người thực tế đang có tài sản phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và có quyền yêu cầu người chuyển giao vật cho mình hoàn trả tiền hoặc các lợi ích vật chất mà mình bị thiệt hại.

Trường hợp người chiếm hữu ngay tình thông qua giao dịch với người chủ sở hữu theo quyết định của toà án hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc mua thông qua bán đấu giá thỉ hành án nhưng sau đó những căn cứ trên không còn (bị huỷ, bị sửa) thì người chiếm hữu ngay tình có quyền sở hữu tài sản đã mua. Những trường họp này người mua và người bán hoàn toàn không có lỗi. Ngược lại, lỗi thuộc về cơ quan nhà nước, do vậy, cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm theo Điều 598 BLDS.

Trong quan hệ pháp luật này, lợi ích vật chất của chủ sở hữu và người đang thực tế chiếm giữ vật là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình đều được luật bảo vệ thoả đáng. Đây cũng là một biện pháp cần thiết để bảo đảm lưu thông dân sự và giáo dục tính thận trọng cho chủ sờ hữu khi chuyển giao tài sản cho người khác. Tuy nhiên, chủ sở hữu có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại tài sản ở người mình đã chuyển giao thông qua hợp đồng dân sự. Người được chuyển giao tài sản đã lạm dụng tín nhiệm bán tài sản của người đã chuyển giao cho mình cho người thứ ba phải bồi thường thiệt hại. Người mua hoàn toàn không thể biết (nhiều trường hợp luật cũng không buộc họ phải biết) người bán là người không có quyền bán tài sản đó. Do vậy, xét về hành vi, ý thức của người thực tế chiếm hữu vật bất hợp pháp là họ không có lỗi trong việc mua bán. Luật cho phép người thứ ba ngay tình tiếp tục sử dụng tài sản đó là hợp lí và tránh được sự thông đồng giữa chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp để gây thiệt hại cho người thứ ba. Những người đã thuê, mượn, nhận giữ tài sản của chủ sở hữu mà bán tài sản đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân. Tài sản trong trường hợp này là vật chứng để chứng minh là của chủ sở hữu. Người chiếm hữu hợp pháp của chủ sở hữu đã chuyển giao tài sản cho người thứ ba phải chịu trách nhiệm dân sự với chủ sở hữu bằng trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng.

Trong việc kiện đòi lại tài sản theo quy định tại các điều 166, 167, 168 BLDS, chủ sở hữu được lấy lại tài sản khi có đù các yếu tố sau đây:

- Tài sản rời khỏi chủ sở hữu hay rời khỏi người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ hoặc theo ý chí của họ nhưng người thứ ba có vật thông qua giao dịch không đền bù (cho, tặng, thừa kế theo di chúc).

- Người thực tế đang chiếm giữ tài sản là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình.

>> Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền tham gia đấu giá tài sản, đất đai mới 2021

- Tài sản hiện đang còn trong tay người chiếm hữu bất hợp pháp.

- Tài sản không là bất động sản hoặc động sản phải đăng kí quyền sở hữu, trừ trường hợp khác do pháp luật quy định.

3. Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối vói tài sản

Chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình, có quyền khai thác lợi ích vật chất của tài sản để thoả mãn các nhu cầu trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp lụật. Nói cách khác:

"chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đổi với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đen lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác" (Điều 160 BLDS).

Bằng các quy phạm pháp luật cụ thể, BLDS đã tạo điều kiện để các chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện quyền của mình, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp đó và cấm mọi hành vi cản trở trái pháp luật.

Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sàn không thuộc quyền sở hữu của mình theo thoả thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật.

Để thực hiện các quyền năng hợp pháp này, BLDS cho phép chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ, yêu cầu người có hành vi cản trở ttái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó. Ngoài việc công nhận quyền trên, Điều 169 BLDS còn quy định: chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.

Phương thức kiện này nhằm bảo đảm để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường.

4. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Điều 170 bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

>> Xem thêm:  Bảo lưu quyền sở hữu là gì ? Quy định về hình thức, nội dung bảo lưu quyền sở hữu ?

"Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đổi với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đổi với tài sản bồi thường thiệt hại".

Quy định này áp dụng trong các trường hợp sau:

- Người chiếm hữu hợp pháp bán tài sản cho người thứ ba ngay tình thì chủ sở hữu yêu cầu người chiếm hữu hợp pháp phải bồi thường giá ttị của tài sản. Ví dụ: A chọ B mượn tài sản. B bán cho c là người ngay tình thì A kiện B đòi bồi thường thiệt hại.

- Người chiếm hữu hợp pháp hoặc bất họp pháp đã bán tài sản cho người khác mà không tìm thấy người mua nữa hoặc tài sản đã bị tiêu huỷ... Trong trường hợp này, chủ sở hữu không thể lấy lại được tài sản của mình và luật cho phép chủ sở hữu lựa chọn phương thức kiện đòi bồi thường thiệt hại. Nghĩa là, chủ sở hữu có quyền kiện đòi người chiếm hữu hợp pháp hoặc bất hợp pháp tài sản của mình phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra cho chủ sở hữu. Nói cách khác, họ phải thanh toán cho chủ sở hữu giá trị của tài sản bằng một số tiền nhất định. Ngoài ra, người gây thiệt hại phải bồi thường hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản (nếu có).

5. Những nguyên tắc vê bảo vệ quyền sở hữu

Về nguyên tắc chung, quyền sở hữu tài sản của các chủ thể trong luật dân sự được pháp luật công nhận và bảo vệ. Điều 163 BLDS đã ghi nhận:

"1. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản".

Cùng với việc ghi nhận này và để bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng, khoản 2 Điều 163 BLDS cũng chỉ ra rằng:

"Trường hợp thật cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường".

Trong quá trình thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt theo quy định tại Điều 158 BLDS, không phải bất cứ lúc nào chủ sở hữu cũng có toàn quyền và "độc lập tuyệt đối" với những chủ thể khác. Bởi lẽ, chủ sở hữu cũng đồng thời là chủ thể của các quan hệ xã hội, họ phải sống trong xã hội và cộng đồng. Điều đó có nghĩa là, khi hành xử quyền của mình, trong một số trường hợp chủ sở hữu bị hạn chế bởi một giới hạn nhất định.

Tuy nhiên, để cho chủ sở hữu có được những điêu kiện thuận lợi khi sử dụng các quyền của mình, BLDS cho phép họ có một số quyền nhất định đối với tài sản của người khác và đồng thời cũng phải chịu sự ràng buộc bởi một số nghĩa vụ nhất định để các chủ thể khác được thuận tiện khi sử dụng quyền của mình.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự về quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu cũng như các vấn đề khác liên quan ... Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có được đứng tên sổ đỏ ở Việt Nam không ?

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có bắt buộc sau 5 năm mới được bán nhà ở xã hội? Thời điểm được chuyển nhượng nhà ở xã hội ?