1. Quy định chung về bầu cử hội đồng nhân dân

Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân là việc cử tri tham gia bỏ phiếu theo các nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và kín để bầu những đại biểu mà mình tín nhiệm vào Hội đồng nhân dân các cấp. Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân là hoạt động chính trị liên quan đến việc hình thành cơ quan đại biểu của nhân dân địa phương, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Để tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, cử tri trực tiếp tham gia bỏ phiếu bầu ra đại biểu mà mình tín nhiệm vào Hội đồng nhân dân các cấp. Việc bầu cử được tiến hành khi kết thúc nhiệm kì của Hội đồng nhân dân. Theo quy định của pháp luật hiện hành, nhiệm kì của Hội đồng nhân dân là 5 năm.

2. Chế độ làm việc của Hội đồng nhân dân

Các Hội đồng nhân dân đều làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số (Khoản 3 Điều 5 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Đây cũng là nguyên tắc hoạt động của Hội đồng nhân dân. Mọi quyết định của Hội đồng nhân dân đều được bàn bạc tập thể và quyết định theo đa số quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân, chỉ trừ trường hợp biểu quyết bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân cần có tỉ lệ phiếu đồng ý tối thiểu là hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân. Phương thức biểu quyết có thể là biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín (Khoản 2, 3 Điều 91 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Đây là chế độ hoạt động chung của các cơ quan đại diện, tương tự với chế độ hoạt động của Quốc hội.

Theo chế độ làm việc hội nghị, các đại biểu Hội đồng nhân dân bình đẳng với nhau với tư cách thành viên của cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương. Điều này là hết sức quan trọng bởi trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân cũng có các vị trí, chức vụ như cơ quan hành chính, ví dụ Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó trưởng ban của Hội đồng nhân dân... Nếu không nắm vững chế độ làm việc sẽ dẫn tới hiểu nhầm rằng các đại biểu Hội đồng nhân dân có các địa vị pháp lý khác nhau. Trên thực tế cũng có sự khác biệt song sự khác biệt chỉ nằm ở phạm vi công việc gắn với chức trách mà một số đại biểu Hội đồng nhân dân được giao thêm. Trong tư cách thành viên của Hội đồng nhân dân, tư cách quan trọng nhất và cũng là cơ bản nhất, các đại biểu Hội đồng nhân dân đều có quyền bình đẳng với nhau. Quyền bình đẳng này thể hiện ở một số khía cạnh quan trọng sau.

Thứ nhất, các đại biểu Hội đồng nhân dân đều bình đẳng trong việc phát biểu ý kiến, đóng góp ý kiến và chất vấn tại các kì họp của Hội đồng nhân dân, các phiên họp của các Ban của Hội đồng nhân dân mà họ là thành viên.

Thứ hai, các đại biểu Hội đồng nhân dân bình đẳng trong việc tham gia biểu quyết. Các đại biểu bất kể chức vụ ra sao đều cùng có một phiếu biểu quyết có giá trị như nhau trong việc tác động tới kết quả bỏ phiếu của Hội đồng nhân dân.

Thứ ba, các đại biểu bỏ phiếu theo niềm tin nội tâm của mình và vì lợi ích của cử tri đã bầu ra mình. Họ có thể biểu quyết tán thành, không tán thành hoặc không biểu quyết. Các đại biểu khác không được tác động nhằm ép buộc đại biểu khác bỏ phiếu khác với ý chí của họ.

Thứ tư, các đại biểu phải biểu quyết trực tiếp, không được biểu quyết thay cho đại biểu khác.

Chỉ có tuân thủ triệt để chế độ làm việc hội nghị và biểu quyết theo đa số mới có thể bảo đảm hoạt động của Hội đồng nhân dân thực sự dân chủ, phản ánh chính xác ý chí, nguyện vọng, lợi ích của các cử tri đã bầu ra đại biểu Hội đồng nhân dân và qua đó là ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân địa phương.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)