Luật bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân năm 2003 đạo luật quy định tiêu chuẩn, điều kiện, cách thức, trình tự, thủ tục của việc ứng cử, bầu cử đại biểu đại diện cho cử tri tham gia vào cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá IX, kì họp thứ 4 thông qua ngày 26.11.2003. Đây là đạo luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thứ tư trong lịch sử lập pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật này thay thế cho Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ngày 21.6.1994.

Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đầu tiên trong lịch sử lập pháp của nước ta được ban hành ngày 26.12.1983. Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thứ hai trong lịch sử lập pháp nước ta được ban hành ngày 30.6.1989 và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1994, đạo luật thứ ba, được ban hành trong bối cảnh Hiến pháp mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kì đổi mới) được thông qua.

Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 được ban hành sau khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung. Luật gồm 79 điều và được chia làm 10 chương. Chương l - Những quy định chung (Điều 1 đến Điều 8); Chương II - Số đại biểu Hội đồng nhân dân, đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu (Điều 9 đến Điều 14); Chương IIl - Các tổ chức phụ trách bầu cử (Điều 15 đến Điều 22); Chương IV - Danh sách cử tri (Điều 23 đến Điều 28), Chương V - Ứng cử và hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 29 đến Điều 47); Chương VI - Trình tự bầu cử (Điều 48 đến Điều 54); Chương VII - Kết quả bầu cử (Điều 55 đến Điều 67); Chương VIII - Việc bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 68 đến Điều 75), Chương lX - Xử lí những hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử (Điều 76 đến Điều 77); Chương X - Điều khoản thi hành (Điều 79). Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 quy định rõ chế độ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân là một chế độ bầu cử dân chủ, theo đó, nguyên tắc bầu cử "phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” được công nhận và thể chế hoá. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám (18) tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt (21) tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền đó.