1. Bản án hình sự sơ thẩm là gì?

Bản án là một quyết định của tòa án sau khi xem xét và giải quyết một vụ việc pháp lý. Nó chứa thông tin về các quyết định của tòa án liên quan đến việc xử lý các vấn đề pháp lý như tội danh, bồi thường thiệt hại, chấp hành án phạt, và các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên liên quan. Bản án được coi là kết quả cuối cùng của quá trình tòa án và có tính pháp lý ràng buộc đối với tất cả các bên liên quan. Bản án hình sự sơ thẩm là quyết định của tòa án tại phiên tòa sơ thẩm (tức phiên tòa đầu tiên) sau khi hoàn tất xét xử vụ án hình sự đó. Bản án này sẽ được tòa án tuyên bố và có hiệu lực ngay lập tức sau khi được tuyên bố. Tùy theo từng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, thời gian xét xử và tuyên án bản án hình sự sơ thẩm có thể khác nhau.

Bản án hình sự sơ thẩm là kết quả cuối cùng của phiên tòa do Hội đồng xét xử đưa ra, dựa trên các bằng chứng, chứng cứ và lập luận pháp lý được đưa ra trong phiên tòa sơ thẩm giữa các bên (công tố và bào chữa). Tuy nhiên, bản án này không có hiệu lực pháp luật ngay và có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo (người bị kết án) có quyền kháng cáo (còn gọi là chống án) bản án hình sự sơ thẩm nếu cho rằng bản án không công bằng hoặc không đúng pháp luật. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp cũng có thể kháng nghị (còn gọi là chống án) nếu cho rằng bản án không đúng pháp luật hoặc không đủ bằng chứng. Do đó, khi không đồng ý với bản án hình sự sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo hoặc Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có thể kháng nghị trong thời hạn quy định để bảo vệ quyền lợi của mình.

2. Bị cáo không đồng ý với bản án hình sự sơ thẩm thì phải làm gì?

Khi bị cáo không đồng ý với bản án hình sự sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trước Tòa án phúc thẩm. Để kháng cáo, bị cáo cần nộp đơn kháng cáo bản án tới Tòa án phúc thẩm trong vòng 15 ngày kể từ ngày bản án được tuyên bố. Trong đơn kháng cáo, bị cáo cần nêu rõ các lý do kháng cáo, những điểm bất hợp lý trong bản án sơ thẩm và các chứng cứ mới mà bị cáo muốn giới thiệu.

Đồng thời, bị cáo cũng phải nộp các tài liệu, chứng cứ, bằng chứng hỗ trợ cho đơn kháng cáo của mình. Sau khi nhận được đơn kháng cáo của bị cáo, Tòa án phúc thẩm sẽ xem xét lại vụ án, thẩm định lại các tài liệu, chứng cứ, tài liệu pháp lý, và có thể yêu cầu tư vấn chuyên gia trong lĩnh vực liên quan đến vụ án. Tòa án phúc thẩm cũng có thể tổ chức phiên tòa mới để xem xét vụ án.

Nếu Tòa án phúc thẩm xác định rằng bản án sơ thẩm không công bằng hoặc không hợp pháp, Tòa án phúc thẩm có thể ra phán quyết xác định lại hình phạt hoặc bác bỏ bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, nếu Tòa án phúc thẩm quyết định xác định lại hình phạt, hình phạt mới có thể cao hơn, thấp hơn hoặc giống như bản án sơ thẩm. Cần lưu ý rằng quyền kháng cáo của bị cáo chỉ được áp dụng trong một số trường hợp nhất định và có thời hạn nhất định. Vì vậy, bị cáo cần nắm rõ quy trình kháng cáo và thời hạn kháng cáo để không bỏ lỡ cơ hội bảo vệ quyền lợi của mình.

Nếu bị cáo không đồng ý với bản án hình sự sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cao hơn trong vòng 15 ngày kể từ ngày Tòa án sơ thẩm tuyên án. Quá thời hạn này, bị cáo không được kháng cáo bản án. Để kháng cáo, bị cáo phải viết đơn kháng cáo và nộp đơn tới Tòa án cao hơn. Trong đơn kháng cáo, bị cáo cần nêu rõ lý do kháng cáo và đưa ra các bằng chứng mới có liên quan đến vụ án. Sau khi tiếp nhận đơn kháng cáo, Tòa án cao hơn sẽ tiến hành xem xét, tuyên bố hủy bỏ hoặc sửa đổi bản án sơ thẩm nếu thấy đáp ứng yêu cầu pháp luật hoặc sẽ bác đơn kháng cáo nếu thấy không đáp ứng yêu cầu pháp luật.

3. Quy định của pháp luật về quyền của bị cáo trong vụ án hình sự

Bị cáo là cá nhân hoặc tổ chức đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo, nếu là tổ chức, sẽ được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của tổ chức đó, theo quy định tại Khoản 1, Điều 61 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có khuyết tật về tâm thần hoặc thể chất. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Người bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hoặc người có khuyết tật về tâm thần hoặc thể chất đều có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định của Toà án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà họ bảo vệ. Người được Toà án tuyên bố vô tội đều có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên họ vô tội.

Bị cáo được cấp các quyền sau đây:

- Quyền được quyết định đưa vụ án ra xét xử, áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế, đình chỉ vụ án, và được thông báo bản án, quyết định của Tòa án, và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

- Quyền tham gia phiên tòa và được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình;

- Quyền đề nghị giám định, định giá tài sản, thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật, triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản, người tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia phiên tòa;

- Quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

- Quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

- Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa;

- Quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; \

- Quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý, tranh luận tại phiên tòa, và nói lời sau cùng trước khi nghị án;

- Quyền xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa; Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án, và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền. 

- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có nghĩa vụ tuân thủ những quy định sau:

- Phải có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án. Nếu bị cáo không thể có mặt do lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, phải thông báo cho Tòa án trước đó để được xem xét. Nếu bị cáo vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không có trở ngại khách quan, có thể bị áp giải để có mặt. Trong trường hợp bị cáo bỏ trốn, Tòa án có quyền ra lệnh truy nã bị cáo.

- Chấp hành quyết định và yêu cầu của Tòa án trong quá trình xét xử. Bị cáo phải tuân thủ các quy định liên quan đến việc giữ bí mật tốt nhất về quá trình xét xử và các thông tin liên quan đến vụ án, không được tiết lộ, phổ biến thông tin sai sự thật, tẩy chay, vu khống người khác hoặc làm mất uy tín của cơ quan tố tụng và nhà nước.

Quý khách có nhu cầu tham khảo về Dịch vụ Luật sư soạn đơn kháng cáo trong vụ án tai nạn giao thông thì có thể tham khảo bài viết dưới đây của Luật Minh Khuê: Dịch vụ Luật sư soạn đơn kháng cáo trong vụ án tai nạn giao thông.

Trên đây là nội dung tư vấn mà công ty Luật Minh Khuê muốn gửi tới quý khách hàng. Nếu quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc hay câu hỏi pháp lý khác thì vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của qúy khách hàng!