1. Bị lừa tiền qua mạng xã hội thì phải làm gì để lấy lại ?
Trả lời:
Theo như bạn trình bày thì bạn có nhờ một người lấy lại mật khẩu tài khoản facebook giúp bạn, và họ ra giá 400 nghìn đồng và bạn cũng đã đồng ý, sau đó người ra giá báo lại bạn đã lấy lại được mật khẩu và bạn đã trả tiền cho họ thì họ đòi them 500 nghìn nữa rồi sau đó không trả lại tài khoản cho bạn cũgn như là chặn luôn bạn. Như vậy, tôi nhận thấy ở đây bạn đã có thể bị người đó lừa đảo để chiếm đoạt số tiền đó của bạn. Trong trường hợp này, bạn nên làm đơn tố cáo ra công an hoặc đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp quận, huyện để tố cáo về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản này, bạn cung cấp số tài khoản ngân hàng và các thông tin của người đó mà bạn biết được để cơ quan chức năng tiến hành điều tra, đảm bảo quyền lợi cho bạn. Theo Bộ luật Hình sự 2015sửa đổi 2017 quy định về tội lừa đảo như sau:
"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."
Các yếu tố cấu thành tội phạm:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý trực tiếp gian dối chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, do người đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định thực hiện.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu pháp lý đặc trưng sau đây:
– Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: là quan hệ sở hữu. Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Việc xâm phạm đến quyền sở hữu thể hiện ở hành vi chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của người khác sau khi lừa lấy được tài sản.
– Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, mà ngay lúc đó người bị hại không biết được có hành vi gian dối.
Về hậu quả: Hậu quả của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là làm thiệt hại về tài sản của người khác. Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, nếu hành vi gian dối bị phát hiện trước khi người bị lừa dối giao tài sản hoặc người bị lừa dối không phát hiện ra hành vi gian dối nhưng không thực hiện việc giao tài sản thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho mình hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
– Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường – bất cứ người nào từ đủ 14 tuổi hoặc 16 tuổi trở lên và không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm.
– Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản luôn có mục đích chiếm đoạt tài sản từ trước sau đó mới thực hiện hành vi lừa dối nhằm đạt được mục đích của mình. Vì vậy, người phạm tội này luôn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Bạn dựa trên những phân tích này để tố cáo hành vi của người vi phạm ra trước cơ quan pháp luật.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Trân trọng./.
2. Mua hàng trả góp bị tố lừa đảo ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.6162
Trả lời:
Trường hợp của Bạn, nếu bạn luôn có ý định muốn trả hết số tiền còn lại, thì Hành vi không trả được tiền theo đúng hạn của Bạn chỉ là hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, cụ thể là nghĩa vụ trả nợ. Bởi vì:
Thứ nhất, Việc bạn mua trả góp là việc Bạn đã tham gia thực hiện 02 hợp đồng dân sự gồm:
- Một là hợp đồng mua bán tài sản là điện thoại được quy định tại Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015
Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản
Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan.
- Hai là Hợp đồng Vay tài sản được quy định tại điều 463 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
Điều 463. Hợp đồng vay tài sảnHợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Theo đó, khi Bạn đến mua điện thoại thì công ty vay đã có ở cửa hàng điện thoại hợp theo sự hợp tác từ trước với cửa hàng điện thoại, để cho khách hàng mua điện thoại trả góp là bạn vay tiền, để trả tiền điện thoại. Ngay sau khi Công ty cho Bạn vay trả tiền cho Cửa hàng điện thoại, thì Hợp đồng mua bán điện thoại của bạn được chấm dứt do các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền và giao điện thoại. Súc đó, Bạn chỉ còn nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đối với công ty cho Bạn vay theo thời gian và mức lãi trong hợp đồng vay để trả góp.
Và đến nay, Bạn không trả nợ đúng hạn theo hợp đồng vay đó là Bạn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với công ty cho vay. Hành vi này chỉ là hành vi vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm nghĩa vụ dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự và chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự là phải trả nợ gốc cộng lãi trong hạn và lãi nợ quá hạn theo quy định tại điều 466 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Thứ hai, là vì Bộ luật hình sự không có quy định tội "Không trả nợ đúng hạn" và vì Bạn không có ý thức gian dối hay lạm dụng trong việc vay tiền trả góp để chiếm đoat tiền của Công ty cho vay. nên bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật hình sự.
Trường hợp này, Công ty cho vay chỉ có thể yêu cơ quan Nhà nước duy nhất có thẩm quyền để buộc Bạn phải trả nợ đó là Tòa án, theo trình tự Tố tụng dân sự.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
3. Khởi kiện mẹ chồng lừa đảo vay tiền không trả ?
>> Luật sư tư vấn về pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Trong trường hợp của bạn, trước hết cần xác định tòa án có thẩm quyền của Tòa án cấp huyện được quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định:
Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này;b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này;d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Như vậy, vụ án của bạn thược vụ việc dân sự và sẽ được xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi mẹ bạn cư trú hoặc nơi có xảy ra tranh chấp.
Về hồ sơ khởi kiện tại tòa án bao gồm:
- Đơn khởi kiện (theo mẫu);
- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.
- Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu gia đình (có chứng thực hoặc công chứng).
- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (bạn phải ghi rõ số lượng bản chính, bản sao)- các tài liệu này bạn phải đảm bảo có tính căn cứ và hợp pháp. Trong đó:
4.. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện
Bạn có thể nộp đơn khởi kiện và tài liệu (những giấy tờ ghi nợ có đầy đủ chữ ký của bà và cả người làm chứng) trực tiếp tại tòa án hoặc gửi qua bưu điện
5. Thủ tục Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.