1. Bị người nước ngoài lừa đảo qua mạng thì tố cáo ở đâu ?

Kính gởi cty Luật Minh Khuê, Tôi xin cty tư vấn giúp tôi một việc như sau : Tôi có người bạn giới thiệu trang web làm quen qua mạng, vì bạn tôi đã gặp được người vừa ý và đã kết hôn nên tôi tin tưởng và đã lên trang mạng để tìm hiểu và cũng gặp được người làm quen với tôi. Anh ta cho biết là lính Mỹ đang đóng quân ở Ba Lan và sau khi quen tôi được vài tuần thì chuyển quân qua Bờ Biển Ngà. Khi qua đến Bờ Biển Ngà anh ta viết mail báo rằng có gửi cho tôi một ít quà gồm có gấu bông, cành hoa hồng, 1 chai nước hoa, đồ trang điểm... để làm quà cho tôi. Khi nhận được tin tôi cũng cảm thấy bất ngờ và xúc động, anh ta gửi cả bill gửi hàng để chứng minh cho tôi thấy. Khi gửi hàng xong anh ta báo với tôi có gửi kèm 1 thẻ Visa đứng tên tôi với số tiền $100,000usd, tôi thật sự bàng hoàng và anh ta trấn an rằng số tiền đó gửi về cho tôi để mua nhà trước khi anh ta về VN.

Tôi đã từ chối không nhận lô hàng nhưng anh ta nói rằng số tiền đó được trích từ một phần hợp đồng của quân đội Mỹ và được giấu trong con gấu bông, anh ta đã gửi để tạo bất ngờ cho tôi. Sau đó 3 ngày Cty vận chuyển mang tên Defense Courier Service có gửi mail báo ngày giao hàng cho tôi, đến lúc đó tôi tin là mọi chuyện có thật. Nhưng đến ngày giao hàng họ báo là hải quan ở Campuchia scan và thấy có thẻ mang tên tôi với số tiền $100,000usd nếu tôi không đóng phạt sẽ liên luỵ đến người gửi hàng, họ sẽ điều tra số tiền và kỷ luật anh ta. Thật sự lúc đó tôi đã không suy nghĩ được nhiều, tôi sợ anh ta bị kỷ luật của quân đội nên đã gửi số tiền $1,440 qua tài khoản đứng tên Lê Tấn Đạt tại ngân hàng ACB, số TK 220537759. Sau khi chuyển tiền họ lại tiếp tục đòi $5000 mới giao hàng, lúc này tôi đã bắt đầu nghi ngờ và quay lại trang mạng làm quen để tìm hiểu thì được biết tài khoản của anh ta đã bị khoá vì có người báo hành vi lừa đảo.

Tôi đã bàng hoàng, tự trách mình đã quá mù quáng tin vào tình yêu, thật lòng mà nói tôi không tham lô hàng đó, tôi đã viết mail nói với anh ta tôi chấp nhận bỏ lô hàng vì không có khả năng đóng phí nhưng anh ta nói rằng vấn đề không phải vì giá trị của lô hàng mà vì chuyện anh ta có thể ở tù nếu hải quan Campuchia báo về đơn vị của anh ta. Tôi đã mềm lòng tin là thật nên cố gắng tìm cách vay tiền để chuyển cho người mà cty vận chuyển cung cấp số tài khoản để giúp anh ta thoát cảnh bị truy tố. Nay tôi đã biết mình bị lừa nên xin luật sư giúp tôi tư vấn xem tôi có thể trình báo sự việc ở đâu ? Tôi có viết email cho Ngân hàng ACB để báo báo hành vi lừa đảo của TK mang tên Lê Tấn Đạt và yêu cầu họ cung cấp thông tin để trình báo công an nhưng Ngân hàng vẫn không trả lời tôi. Xin luật sư tư vấn giúp tôi có cách nào truy cứu nhóm người lừa đảo và lấy lại số tiền được không ?

Xin cảm ơn rất nhiều.

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, cụ thể như sau

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 Điều này;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 Điều này

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy theo thông tin anh/Chị cung cấp thì hoàn toàn có thể có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự những đối tượng đó vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản về thủ tục làm đơn tố cáo chị thực hiện theo trình tự sau đây

Thứ nhất: Chuẩn bị hồ sơ tố cáo

1. Đơn tố cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đơn này có thể soạn thảo theo mẫu Đơn tố cáo mới nhất ;

2. Hồ sơ tài liệu liên quan: Những giấy tờ tài liệu xác nhận chuyển khoản qua ngân hàng;

Thứ hai: Nộp đơn tố cáo tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 269. Thẩm quyền theo lãnh thổ

1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

2. Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.

Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án

1. Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật hình sự;

d) Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:

a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực;

b) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;

c) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.

Như vậy để giải quyết vụ việc nêu trên Anh/Chị vui lòng gửi đơn tố cáo lên cơ quan Điều tra quận/huyện nơi xảy ra vụ việc để được hỗ trợ giải quyết.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 1900.0159 để được giải đáp.Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

2. Tư vấn lấy lại tiền từ đối tượng lừa đảo ?

Chào Luật sư, Hiện tôi đang là công chức nhà nước làm việc cho một cơ quan hành chính của tỉnh. Cách đây 2 năm, tôi có quen một đối tượng tự nhận xin được việc vào các cơ quan nhà nước. Đối tượng này đã liên tục gọi điện dụ dỗ tôi nên khi người thân và bạn bè nhờ vả, giao tiền và hồ sơ cho tôi, tôi đã chuyển cho đối tượng trên để tiến hành làm việc với số tiền là 855 triệu đồng (Đằng sau đối tượng này còn cả một đường dây liên quan nhiều người) Sau một thời gian khá dài thấy tình hình không khả quan, và đối tượng này mới đây cũng đã bị công an bắt vì bị người khác tố cáo vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà tôi chưa lấy lại được tiền. Về phần tôi, tôi đã bỏ tiền cá nhân hoàn trả đầy đủ hết cho những người tôi đã cầm tiền nên tôi không bị ai tố cáo.
Vậy Luật sư cho tôi hỏi:
1. Đối tượng đã bị bắt, vậy nếu tôi cũng làm đơn tố cáo thì có bị liên đới trách nhiệm gì trong đường dây chạy việc này không? có bị truy cứu gì không? (Trước đó tôi đã có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ số tiền mọi người đã đưa cho tôi, và trong giấy vay tiền, đối tượng chỉ ghi là dùng vào việc cá nhân chứ không có đề cập đến chạy việc) ?

2. Tôi cũng chỉ là người bị lừa, vậy tôi có quyền lợi hợp pháp để đứng ra tố cáo đối tượng ko?

3. Nếu trong trường hợp cả đường dây chạy việc đằng sau đối tượng này bị phanh phui và thu hồi được tiền, thì tôi có được hoàn trả lại đầy đủ không?

4. Trong giấy nhận tiền giữa tôi và đối tượng có mẹ của đối tượng ký làm chứng, có công chứng con dấu đỏ của UBND xã nơi đối tượng cư trú. và có nhiều khoản tiền tôi chuyển vào tài khoản ngân hàng đứng tên mẹ đối tượng, nếu tôi làm đơn tố cáo thì người mẹ đối tượng có bị truy cứu không?

5. Nếu đối tượng và gia đình không có khả năng chi trả cho tôi, thì tòa sẽ phán quyết như thế nào?

Mong Luật sư tư vấn giùm tôi, tôi xin cám ơn

>> Tư vấn Luật Hình sự trực tuyến qua tổng đài, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 139, Bộ luật Hình sự 1999 sủa đổi, bổ sung năm 2009 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

'' 1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.''

Theo điểm a, khoản 2, điều 1 luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định : "Sửa đổi cụm từ “năm trăm nghìn đồng” thành cụm từ “hai triệu đồng” tại khoản 1 các điều 139".

Các hành vi của bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không thì cần phải phân tích các cấu thành của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

1. Mặt khách quan:

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

2. Khách thể:
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

3. Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Tuy nhiên cần lưu ý:

Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

Như vậy, theo phân tích nêu trên thì hành vi của bạn không đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của tội này.

Theo đó, căn cứ vào những dấu hiệu của “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và những tình tiết bạn đưa ra, những người bị hại có thể thực tố cáo người có hành vi lừa đảo đó tại cơ quan công an nơi người đó đang cư trú. Kèm theo đơn tố cáo là những bằng chứng, chứng cứ chứng minh cho hành vi lừa đảo này.

Tham khảo: Mẫu đơn tố cáo

Về mẹ của đối tượng lừa đảo, theo như những thông tin bạn cung cấp thì người này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo theo chế định Đồng phạm được quy định tại Điều 20 của Bộ luật Hình sự:

'' Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.''

Về vấn đề bồi thường thiệt hại cho bạn trong trường hợp này sẽ được giải quyết theo Luật thi hành án Dân sự 2014 như sau:

“Điều 44a. Xác định việc chưa có điều kiện thi hành án

1. Căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;

b) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;

c) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.

2. Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành.

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.”

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.0159 . Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Bị lừa đảo qua mạng có khởi kiện ra Tòa án được hay không ?

Thưa luật sư. Cách đây 3 năm, khi đó Em mới ra trường chưa có Việt làm, nên đã bị lừa chạy việc với số tiền là 50triệu đồng. Qua 3 năm không có câu trả lời. Gia đình em ra đòi thì họ không trả. Xin hỏi em phải làm đơn như thế nào và nộp ở đâu. Người này có quen biết một số cán bộ ở huyện em đang sinh sống và vụ việc này có liên quan đến nhiều cán bộ. Khi đưa tiền nhà em không có bất cứ một giấy tờ nào để làm chứng nhưng em có lưu lại các cuộc điện thoại nói chuyện, có đề cập tới vấn đề đưa tiền, nhận tiền và xin việc ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp thì nếu người có giấu hiệu gian dối, lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn thì tùy vào giá trị tài sản mà người này chiếm đoạt bao nhiêu, nếu dưới 2 triệu sẽ bị xử phạt hành chính đối với hành vi này theo quy định tại Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình như sau:

Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản;

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác;

b) Gây mất mát, hư hỏng hoặc làm thiệt hại tài sản của Nhà nước được giao trực tiếp quản lý;

c) Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản;

d) Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;

Còn trường hợp chiếm đoạt tài sản trên 2 triệu trở lên, hoặc duới 2 triệu nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009.

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 quy định:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân;

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Do đó, trong trường hợp này bạn có thể làm đơn tố cáo gửi tới cơ quan công an nơi người này đang cư trú, hoặc nơi công ty đóng trụ sở nếu là tổ chức để được giải quyết.

Tham khảo theo: Mẫu đơn tố cáo

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Tư vấn khởi kiện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi mua bán xe ?

Xin chào luật sư. Tôi có mua một chiếc xe máy của anh bạn, tôi đã giao tiền đầy đủ và làm thủ tục bán xe và cầm đăng ký xe, nhưng do anh bạn có việc nên hẹn tôi 10 ngày sau sẽ đưa xe cho tôi, đến giờ anh ta lại không chịu giao xe cho tôi. Vậy tôi xin hỏi nếu kiện anh ta thì anh ta sẽ mắc tội gì ?
Mong luật sư giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì vụ việc trên không có yếu tố phạm tội do chưa có dấu hiệu phạm tội. Bởi hợp đồng mua bán của bạn chưa phát sinh hiệu lực pháp luật. Bạn của bạn cũng không vi phạm nghĩa vụ mua bán tài sản.

Điều 439 Bộ luật dân sự 2005: Thời điểm chuyển quyền sở hữu.

1. Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó.

Như vậy, theo quy định trên, thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm bạn đi đăng ký, tức làm thủ tục chuyển quyền sở hữu xe. Nếu chưa thực hiện thủ tục này thì hợp đồng mua bán xe của bạn chưa phát sinh hiệu lực

Hơn nữa, theo quy định của điểm g khoản 1 điều 10, Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe: Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực.

Như vậy, trước hết, bạn hãy hoàn thiện các thủ tục cần thiết để đảm bảo giá trị pháp lý của hợp đồng mua bán này:

- Đem công chứng hợp đồng mua bán xe hoặc chứng thực chữ ký của người bán

- Thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu xe theo quy định tại Điều 16 Thông tư 15/2014

- Khoản 3 điều 6 Thông tư 15/2014 quy định nghĩa vụ của chủ xe: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.

Sau khi hoàn thành thủ tục trên mà chủ xe không chịu giao xe thì chủ xe đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng có thể phải chịu phạt vi phạm (nếu hợp đồng mua bán xe có quy định); vi phạm quy định điều 303 BLDS (Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật); điều 305 BLDS (trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự).

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.0159. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Tư vấn trình tự thủ tục kiện về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Xin chào Luật Sư. Tôi muốn xin Luật Sư tư vấn giúp tôi về việc Tôi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Ngày 2.7.2015 Anh Vũ có gọi để mua một lượng hàng tiêu dùng trị giá 138tr. Tôi và Anh Vũ là tiếp thị quen biết và làm ăn cũng gần 10 năm.
Tất cả mọi lần giao dịch đều suôn sẻ, nhưng lần này Anh ấy lấy hàng và không đưa tiền cho tôi. Tôi không có bất cứ bằng chứng nào cả, vì hóa đơn là một mẫu giấy viết tay, chữ ký đó Anh Vũ ký khác đi (giao hàng của tôi đã chứng kiến anh vũ nhận hàng và kí tên). Cùng lúc đó, Anh Vũ cũng tiếp tục lừa đảo nhà phân phối quận 7 với số tiền hàng 90tr. Nhưng bên đó chứng cứ mạnh hơn.
Tôi muốn hỏi Luật sư với trường hợp của tôi liệu có thể kiện Anh Vũ không, thủ tục và các bước như thế nào, vì tôi đem đơn tố cáo nộp Công An thì họ không nhận. Sự việc giao dịch hàng xảy ra ở Huyện Bình Chánh, kho hàng tôi ở quận Tân Phú và nơi cư ngụ của anh Vũ ở quận 7.
Tôi xin cảm ơn Luật Sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật về hình sự: 1900.0159

Trả lời:

Căn cứ Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Theo đó, trong trường hợp này đã có đầy đủ các hành vi của anh Vũ để cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể anh ta đã nhận tài sản (hàng tiêu dùng) của bạn nhưng không giao tiền và dùng thủ đoạn gian dối là thay đổi chữ kí để chiếm đoạt số tài sản đó có giá trị 138 triệu đồng. Đồng thời hành vi của anh ta cũng thuộc vào khoản 2- Điều 148 về tình tiết tăng nặng: chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng (138 triệu đồng) và tái phạm nhiều lần ( Anh Vũ cũng tiếp tục lừa đảo nhà phân phối quận 7 với số tiền hàng 90triệu) . Vì vậy bạn hoàn toàn có quyền kiện anh ta với cơ quan công an và cung cấp tất cả những chứng cứ cần thiết.

Trình tự thủ tục tiến hành được quy đinh trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

Khi phát hiện bên kia không giao tiền hàng và có hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản, bạn có thể thông báo cho một trong các cơ quan dưới đây:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.
Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.
Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Sau khi tiếp nhận tin báo của bạn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh với sự việc của bạn. Nếu có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan điều tra sẽ tiến hành khởi tố vụ án và tiến hành điều tra nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn.

Trong trường hợp này, bạn sẽ không phải nộp phí cho cơ quan tiến hành điều tra, truy tố hay xét xử vì đây là trách nhiệm của họ đã được pháp luật quy định:

"Điều 13. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự.
Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án, trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?