1. Người nước ngoài lừa đảo qua Facebook?

Tôi xin hỏi: Tôi quen một người bạn qua facebook, người bạn đó có nói sẽ gửi quà tặng tôi và nói trong đó có 1 thẻ Visa đứng tên tôi với số tiền $100,000usd, nước hoa và vàng. Sau đó 3 ngày Công ty vận chuyển mang tên Defense Courier Service có gửi mail báo ngày giao hàng cho tôi. Họ báo phải gửi một khoản phí phạt vì soi thấy tiền và vàng. Họ nói phải chuyển qua tài khoản đứng tên Lê Tấn Đạt tại ngân hàng ACB, số TK 220537759. Sau khi chuyển tiền họ lại tiếp tục đòi $5000 mới giao hàng. Nhưng tôi không có tiền nữa. Vậy tôi có nên đóng nữa hay không? Có phải đóng tiền nhiều như vậy không?

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại điều 12 Luật bưu chính 2010 về vật phẩm, hàng hóa không được gửi, chấp nhận qua mạng bưu chính:

Điều 12. Vật phẩm, hàng hoá không được gửi, chấp nhận, vận chuyển qua mạng bưu chính

...

4. Vật phẩm, hàng hoá bị cấm vận chuyển bằng đường bưu chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Công ước bưu chính thế giới và các Nghị định thư quy định về các bưu phẩm không được chấp nhận, cấm gửi như sau:

Điều 25: Các bưu gửi không được chấp nhận. Cấm gửi

...

5- Cấm không được đưa các loại tiền kim loại, tiền giấy, chứng khoán, các loại séc du lịch bạch kim, vàng hoặc bạc đã được gia công hoặc chưa, các loại đá quý, đồ trang sức hoặc các vật phẩm có giá trị khác vào:

...

Căn cứ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, cụ thể như sau

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 Điều này;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 Điều này

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Nếu bạn gặp phải trường hợp có dấu hiệu nêu trên thì bạn phải hết sức cảnh giác và hãy báo cho cơ quan Công an để Công an điều tra làm rõ theo trình tự sau đây

Thứ nhất: Chuẩn bị hồ sơ tố cáo

1. Đơn tố cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đơn này có thể soạn thảo theo mẫu Đơn tố cáo mới nhất ;

2. Hồ sơ tài liệu liên quan: Những giấy tờ tài liệu xác nhận chuyển khoản qua ngân hàng;

Thứ hai: Nộp đơn tố cáo tại cơ quan Điều tra quận/huyện nơi xảy ra vụ việc để được hỗ trợ giải quyết.

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

2. Có lấy lại tiền từ đối tượng lừa đảo ?

Tôi có quen một đối tượng tự nhận xin được việc vào các cơ quan nhà nước. Đối tượng này gọi điện dụ dỗ nên tôi đã chuyển cho đối tượng trên để tiến hành làm việc với số tiền là 855 triệu đồng Sau một thời gian đối tượng đã bị công an bắt vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tôi đã bỏ tiền cá nhân hoàn trả đầy đủ hết cho những người tôi đã cầm tiền nên tôi không bị ai tố cáo.
Luật sư cho tôi hỏi:
1. Đối tượng đã bị bắt, vậy nếu tôi cũng làm đơn tố cáo thì có bị liên đới trách nhiệm gì trong đường dây chạy việc này không? có bị truy cứu gì không? (Trước đó tôi đã có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ số tiền mọi người đã đưa cho tôi, và trong giấy vay tiền, đối tượng chỉ ghi là dùng vào việc cá nhân chứ không có đề cập đến chạy việc) ?

2. Tôi cũng chỉ là người bị lừa, vậy tôi có quyền lợi hợp pháp để đứng ra tố cáo đối tượng ko?

3. Trong giấy nhận tiền giữa tôi và đối tượng có mẹ của đối tượng ký làm chứng, có chứng thực của UBND xã nơi đối tượng cư trú. Nếu tôi làm đơn tố cáo thì người mẹ đối tượng có bị truy cứu không?

Trả lời:

Thứ nhất, Căn cứ Điều 174 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo đó, người nào thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách vay, mượn tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà:

- Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó

- Đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả

- Đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

Các hành vi của bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không thì cần phải phân tích các cấu thành của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

1. Mặt khách quan:

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

2. Khách thể:
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

3. Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Như vậy, theo phân tích nêu trên thì hành vi của bạn không đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của tội này.

Theo đó, căn cứ vào những dấu hiệu của “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và những tình tiết bạn đưa ra, những người bị hại có thể thực tố cáo người có hành vi lừa đảo đó tại cơ quan công an nơi người đó đang cư trú. Kèm theo đơn tố cáo là những bằng chứng, chứng cứ chứng minh cho hành vi lừa đảo này.

Về mẹ của đối tượng lừa đảo, theo như những thông tin bạn cung cấp thì người này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo theo chế định Đồng phạm được quy định tại Bộ luật Hình sự

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

3. Bị lừa qua mạng có thể khởi kiện ra Tòa án ?

Thưa luật sư. Cách đây 3 năm, khi đó Em mới ra trường chưa có Việt làm, nên đã bị lừa chạy việc với số tiền là 50triệu đồng. Qua 3 năm không có câu trả lời. Gia đình em ra đòi thì họ không trả. Xin hỏi em phải làm đơn như thế nào và nộp ở đâu. Người này có quen biết một số cán bộ ở huyện em đang sinh sống và vụ việc này có liên quan đến nhiều cán bộ. Khi đưa tiền nhà em không có bất cứ một giấy tờ nào để làm chứng nhưng em có lưu lại các cuộc điện thoại nói chuyện, có đề cập tới vấn đề đưa tiền, nhận tiền và xin việc ?

Tư vấn:

Theo Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình như sau:

Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản;

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác.

...

Còn trường hợp chiếm đoạt tài sản trên 2 triệu trở lên, hoặc duới 2 triệu nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, trong trường hợp này bạn có thể làm đơn tố cáo gửi tới cơ quan công an nơi người này đang cư trú, hoặc nơi công ty đóng trụ sở nếu là tổ chức để được giải quyết.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Khởi kiện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Xin chào luật sư. Tôi có mua một chiếc xe máy của anh bạn, tôi đã giao tiền đầy đủ và làm thủ tục bán xe và cầm đăng ký xe, nhưng do anh bạn có việc nên hẹn tôi 10 ngày sau sẽ đưa xe cho tôi, đến giờ anh ta lại không chịu giao xe cho tôi. Vậy tôi xin hỏi nếu kiện anh ta thì anh ta sẽ mắc tội gì ?
Mong luật sư giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: P.T

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì vụ việc trên không có yếu tố phạm tội do chưa có dấu hiệu phạm tội. Bởi hợp đồng mua bán của bạn chưa phát sinh hiệu lực pháp luật. Bạn của bạn cũng không vi phạm nghĩa vụ mua bán tài sản. Theo Điều Bộ luật dân sự năm 2015

3. Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ về quyền sở hữu đối với quyền tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển quyền sở hữu, nếu pháp luật có quy định.

Như vậy, theo quy định trên, thời điểm chuyển quyền sở hữu là thời điểm bạn đi đăng ký, tức làm thủ tục chuyển quyền sở hữu xe. Nếu chưa thực hiện thủ tục này thì hợp đồng mua bán xe của bạn chưa phát sinh hiệu lực

Hơn nữa, theo quy định của điểm g khoản 1 điều 10, Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe: Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực.

Như vậy, trước hết, bạn hãy hoàn thiện các thủ tục cần thiết để đảm bảo giá trị pháp lý của hợp đồng mua bán này:

- Đem công chứng hợp đồng mua bán xe hoặc chứng thực chữ ký của người bán

- Thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu xe theo quy định tại Điều 16 Thông tư 15/2014

- Khoản 3 điều 6 Thông tư 15/2014 quy định nghĩa vụ của chủ xe: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.

Sau khi hoàn thành thủ tục trên mà chủ xe không chịu giao xe thì chủ xe đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng có thể phải chịu phạt vi phạm (nếu hợp đồng mua bán xe có quy định).

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

5. Vay tiền không trả có bị xử lý hình sự?

Trả lời:

Nghĩa vụ trả nợ của người vay tiền

Theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, người đi vay phải có nghĩa vụ trả nợ cho người vay. Cụ thể:

- Nếu tài sản vay mượn là tiền thì người đi vay phải trả đúng và đủ số tiền đã vay.

- Nếu tài sản là vật thì người đi vay phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng. Nếu không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

Ngoài ra, nếu đến thời hạn trả nợ mà người đi vay không trả hoặc không trả đủ số tiền đã vay thì người cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả.

Xử lý hình sự nếu không trả tiền đã vay

Ngoài việc phải trả lãi trên số nợ quá hạn theo Bộ luật Dân sự quy định thì trong nhiều trường hợp người đi vay mà không trả có thể bị xử phạt hình sự.

Tùy vào mức độ, tính chất cũng như giá trị của khoản vay mà người đi vay có thể bị xử phạt hình sự với tội danh Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015.

Theo đó, người nào thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách vay, mượn tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà:

- Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó

- Đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả

- Đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

Hình phạt cao nhất bị áp dụng với tội danh này lên đến 20 năm tù.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo