1. Tư vấn lấy lại tiền bị lừa đảo qua mạng ?

Thư luật sư! Xin cho tôi hỏi về tình huống sau: trang mạng xã hội facebook gửi cho tôi một tin nhắn nói rằng tôi đã trúng thưởng giải nhất chương trình tri ân khách hàng bao gồm 1 xe máy Sh 150i và 350.000.000vnd tiền mặt và gợi ý cho tôi đăng nhập vào trang web www.trang....com.
Tôi đã làm theo và đăng nhập vào trang web đó và điền thông tin cá nhân để làm thủ tục nhận giải thì trang yêu cầu tôi phải thanh toán 350.000 tiền chi phí làm hồ sơ nhận giải. Thanh toán chi phí bằng cách mua đủ 350.000vnd tiền thẻ cào rồi thanh toán qua trang web www.trang....com/form.php. Trang web cho biết, sau khi tôi thanh toán xong 350.000 và thanh toan thêm chi phí vận chuyển 2.200.000vnd thì số tiền mặt sẽ được chuyển vào tài khoản atm của tôi. Tuy nhiên, sau khi thanh toán xong, tôi lại nhận được cuộc gọi từ phía trao giải và họ yêu cầu tôi thanh toán 8.000.000vnd tiền thuế VAT với hình thức thanh toán như trên. Và họ cho biết, sau khi tôi thanh toán xong thì sau 30phut tôi sẽ nhận được tiền trong tài khoản atm. Nhưng, sau khi tôi thanh toán xong nhân viên bên trao giải lại thông báo rằng tôi phải thanh toán thêm 20.000.000 vnd để mua mã số kích hoạt thì ban tổ chức mới tiến hàng trao giải thưởng tiền mặt thong qua ngân hàng vcb 350.000.000 cho tôi.
Và sau khi thanh toan hết thi lại tiếp tục yêu cầu tôi thanh toán thêm 23.000.000vnd để dăng ki hồ sơ trước bạ và thuế gì đó.Lúc này Tôi cảm thấy mình đã bị lừa nên tôi muốn lấy lại số tiền đã thanh toán qua 3 lần là 30.550.000 thì tôi phải làm như thế nào?
Cảm ơn Luật Sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về vấn đề này của bạn, Điều 226b Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009 có quy định như sau:

“Điều 226b. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện một trong những hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hoá, dịch vụ;

b) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

c) Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

d) Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Như vậy trường hợp của bạn, đến thời điểm hiện tại nếu nếu bạn vẫn tiếp tục không liên lạc được với tổ chức trên và không được giải thích cụ thể về việc nhận giải như thế nào từ tổ chức này thì có thể xác định đối tượng đã thông qua mạng internet sử dụng thông tin không chính xác nhằm lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của bạn theo Điều 226b LHS. Để đòi lại được số tiền đã bị chiếm đoạt bạn cần làm đơn trình báo lên cơ quan công an tại địa phương đề nghị giải quyết, trong đơn bạn cần trình bày cụ thể các thông tin mình nắm được cũng như cung cấp toàn bộ giấy tờ liên quan đến các giao dịch bạn đã chuyển tiền, cơ quan chức năng có trách nhiệm điều tra và làm rõ vụ việc giúp bạn đòi lại số tiền.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Xử lý hành vi lừa dối trong góp vốn kinh doanh ? Mẫu đơn tố cáo tội lừa đảo

2. Có phải hành vi lừa đảo có tổ chức không ?

Tôi mong luật sư giúp tôi.sự việc như sao.vào khoảng tháng 9 năm trước.Tôi quen 1 người.và người này giới thiệu cho tôi mua 1 chiếc xe tải nhỏ.với giá 60.000.000.triệu.va ̀ anh này xin một triệu tiền dịch vụ.Tôi đã đồng ý.và anh ta có hứa trong vòng một tháng.bên bán xe sẽ mua lại.anh ta nói đang chạy cầm bằng khoán dùm.mẹ của người bán xe giá trị 1tỷ.và sao do tôi và anh ta đi coi xe tôi đã đồng ý mua.và có gặp gia đình bên bán xe.và gặp mặt mẹ người bán xe.
Và mẹ người bán xe cũng nói sẽ cầm bằng khoán 1tỷ rồi mua lại xe, nếu hcầm được bằng sẽ làm công chứng rồi viết giấy cho thuê lại.và sau đó là đi công chứng tại ủy ban nơi cư trú của bên bán xe.hôm đó là 2h chiều thứ 6. Cái thằng bán xe nó nói vợ nó đem giấy tờ lên uỷ ban làm công chứng mà người ta đi họp hết rồi.hiện nay hai vợ chồng nó làm việc tại uỷ ban. Rồi sao đó nó nan ny đưa tiền cho nó, rồi sao đó nó qua công an chứng giùm nó viết giấy tay bán xe. Có chư ký của 2vợ chồng nó và có 2người làm chứng nhận tiền.qua công an phường chứng.công an o chứng.
Nó đưa thêm so hô khẩu.và 1 tờ giấy công an xác nhận của công an.hiện tại nó có mặt tại địa phương vào thời điểm giao dịch mua bán.và hứa sáng thứ 7 làm công chứng.và sao đó nó hứa hoài o chịu công chứng.vào ngày 19-9-2015.nó có viết cho tui 1 tờ giấy cam kết.trong vòng 30 sẽ làm công chứng.với lý do bị công an giao thông bắt xe.Cho tới nay nó o trả tiền mà cũng o làm công chứng.hiện giờ xe nó mất tiêu luôn.luật sư cho em biết.em muốn thưa 4người này tội.lừa đảo có tổ chức có được o.1 là thằng co.2là mẹ của thằng chu xe.3là thằng chu xe.4là vợ thằng chu xe.luật sư cho em hỏi thêm là.trình công an.hay là thưa tòa án.và thời gian là bao lâu mới được sử lý ?
Em chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Vụ thể luật quy định như sau:

Điều 139*. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân :

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo pháp luật quy định thì" người nào có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên". Ở đây theo thông tin mà bạn cung cấp thì người chủ xe đã có hành vi gian dối đó là cố ý kéo dài thời gian làm thủ tục cho bạn và tới giờ vẫn chưa thực hiện xong thủ tục bán xe hoặc công chứng, bên cạnh đó tài sản mua bán không thấy nữa mà bên chủ xe đã nhận của bạn khoản tiền đặt cọc trước. Vậy điều đó chỉ đủ chứng minh người chủ xe có hành vi lừa đâỏ nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn, còn những người còn lại thì có thể chưa thể hiện rõ hành vi lừa đảo. Nếu như có thể chứng minh học cũng liên quan tới vụ việc thì có thể có 2 trường hợp đó, là họ là đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức, tùy thuộc vào mức độ tham gia và hành vi của họ trong quá trình thực hiện hành vi.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

3. Tư vấn về việc lừa đảo qua mạng có phạm luật ?

Thưa luật sư, Tôi có phát hiện 1 bên đang có những hành vi không trung thực trong kinh doanh trên mạng. Thông tin chi tiết tôi đã đăng tải tại một website bán hàng online. Tôi đang có thắc mắc như sau: Công ty này thanh toán tiền hoa hồng cho cộng tác viên nhưng lại trừ thuế TNCN cho các khoản thanh toán <>
Tôi đã yêu cầu bên đó công khai xin lỗi và họ đã đưa ra lời xin lỗi và nhận rằng đã tính thuế TNCN sai từ tháng 8-11. Tôi muốn hỏi là sai phạm của họ sẽ bị phạt hay như thế nào hay không? Họ nói sẽ thanh toán lại số tiền sai đó cho người dùng tuy nhiên tôi không tin tưởng việc đó, họ có thể cung cấp số liệu sai mà không bên nào có thể cam kết đúng hay không. Công ty này cung cấp/để rò rỉ thông tin khách hàng ra bên ngoài cho đối tác của họ phục vụ vào mục đích sale. Tôi đang yêu cầu họ nhận trách nhiệm nhưng họ chưa có phản hồi chính thức.
Tôi không rõ luật pháp Việt Nam hành vi cung cấp thông tin khách hàng ra ngoài như vậy có bị phạt hay là gì hay không?
Trân trọng cảm ơn!

Trả lời:

Điều 12 Thông tư 166/2013/TT-BTC quy định về Xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn như sau:

1. Các trường hợp khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, bao gồm:

a) Hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, tăng số thuế được miễn, giảm nhưng người nộp thuế phát hiện và đã ghi chép kịp thời, đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế làm phát sinh nghĩa vụ thuế trên sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ khi lập báo cáo tài chính, quyết toán thuế.

b) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm, người nộp thuế chưa điều chỉnh, ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ kê khai thuế, nhưng khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, người vi phạm đã tự giác nộp đủ số tiền thuế khai thiếu vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền lập biên bản kiểm tra thuế, kết luận thanh tra thuế.

c) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản kiểm tra thuế, kết luận thanh tra thuế xác định là có hành vi khai man, trốn thuế, nhưng nếu người nộp thuế vi phạm lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thì cơ quan thuế lập biên bản ghi nhận để xử phạt theo mức phạt tiền đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm, nhưng khi cơ quan thuế kiểm tra phát hiện, người mua có hồ sơ, tài liệu, chứng từ, hóa đơn chứng minh được lỗi vi phạm hóa đơn bất hợp pháp thuộc về bên bán hàng và người mua đã hạch toán kế toán đầy đủ theo quy định.

2. Mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này là 20% tính trên số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm cao hơn so với mức quy định của pháp luật về thuế.

3. Trường hợp vi phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều này ngoài việc bị xử phạt theo quy định tại Khoản 2 Điều này còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là nộp đủ số tiền thuế nợ, số tiền thuế thiếu, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.

Cơ quan thuế xác định số tiền thuế thiếu, số ngày chậm nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế; số tiền phạt và ra quyết định xử phạt đối với người nộp thuế.

Cơ quan thuế căn cứ ngày nộp tiền vào ngân sách nhà nước ghi trên chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước hoặc chứng từ chuyển khoản có xác nhận của kho bạc nhà nước hoặc tổ chức tín dụng để xác định việc người nộp thuế đã nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước và số ngày chậm nộp tiền thuế để làm căn cứ xác định số tiền chậm nộp tiền thuế.

4. Trường hợp, người nộp thuế có hành vi khai sai quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thì không bị xử phạt theo quy định tại Điều này mà bị xử phạt theo quy định tại Khoản 4 Điều 8 Thông tư này.

Ngoài ra điều 7 Luật An toàn thông tin mạng 2015 quy định về các hành vi bị pháp luật cấm như sau:

1. Ngăn chặn việc truyền tải thông tin trên mạng, can thiệp, truy nhập, gây nguy hại, xóa, thay đổi, sao chép và làm sai lệch thông tin trên mạng trái pháp luật.

2. Gây ảnh hưởng, cản trở trái pháp luật tới hoạt động bình thường của hệ thống thông tin hoặc tới khả năng truy nhập hệ thống thông tin của người sử dụng.

3. Tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng của biện pháp bảo vệ an toàn thông tin mạng của hệ thống thông tin; tấn công, chiếm quyền điều khiển, phá hoại hệ thống thông tin.

4. Phát tán thư rác, phần mềm độc hại, thiết lập hệ thống thông tin giả mạo, lừa đảo.

5. Thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác; lợi dụng sơ hở, điểm yếu của hệ thống thông tin để thu thập, khai thác thông tin cá nhân.

6. Xâm nhập trái pháp luật bí mật mật mã và thông tin đã mã hóa hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tiết lộ thông tin về sản phẩm mật mã dân sự, thông tin về khách hàng sử dụng hợp pháp sản phẩm mật mã dân sự; sử dụng, kinh doanh các sản phẩm mật mã dân sự không rõ nguồn gốc.

Như vậy tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà công ty trên có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Trên thực tế những thông tin của bạn cung cấp cũng không quá khó tìm kiếm, nhiều người còn sẵn sàng rao bán danh sách khách hàng, danh sách email, thông tin công ty... Hiện tại vấn đề quản lý thông tin và an toàn thông tin trên mạng của Việt Nam còn nhiều lỗ hổng về chính sách quản lý cũng như chính sách pháp lý. Các chế tài xử phạt thì khá chung chung và khó khăn trong việc xác lập các bằng chứng online bởi các công ty có thể dựạ trên thành viên viết bài (post) hoặc đưa ra các phương thức khác nhằm che giấu thông tin. Chúng tôi chỉ đưa ra một số phân tích pháp lý cơ bản để Quý khách tham khảo.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Lừa đảo qua mạng có khởi kiện được không ?

Thưa luật sư! Em có mua tài khoản game qua mạng với hình thức nạp thẻ vs gía trị 750.000. Sau khi chuyển khoản em không nhận được thông tin gì từ bạn ấy nữa em chỉ có nick mua bán trên mạng của bạn ấy. Số tài khoản ngân hàng, số điện thoại, hình chụp lại tin nhắn gửi tiền đã gửi cho bạn ấy. Em có được kiện bạn ấy tội lừa đảo không. Và có đủ bằng chứng kiện bạn ấy hay không?
Em xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009 quy định như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Vì số tiền người kia chiếm đoạt là 750.000 đồng, chưa đủ giá trị tài sản để cấu thành tội phạm, nên người đó sẽ bị xử phạt hanh chính theo Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

"Điều 15: Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:...
c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;
d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm a, b, c Khoản 1; Điểm c, đ, e Khoản 2 Điều này.

4. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam."

Do đó, bạn nên tố cáo hành vi của người bán hàng đến cơ quan công an cấp quận/huyện nơi người đó cư trú để được giải quyết.

Hoặc Theo quy định tại các điều 255, 256 và 260 Bộ luật Dân sự, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu đòi lại tài sản:

"Điều 255. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật.

Điều 256. Quyền đòi lại tài sản

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này.

...

Điều 260. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại."

Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự thì bạn sẽ phải nộp đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền nơi người có hành vi lừa đảo cư trú. Trong thời hạn 5 ngày làm việc Tòa sẽ xem xét và ra quyết định thụ lý hoặc trả lại đơn khởi kiện cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Có tội lừa dối tình cảm người khác không ? Khởi kiện hành vi lừa đảo qua mạng

5. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua facebook thì xử phạt như thế nào ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các vấn đề liên quan.

Trả lời:

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội) quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi ở HN, tôi có mua nước hoa xách tay trên mạng, bên bán hàng (địa chỉ Ở tp.HCM) có cam kết với tôi chỉ bán hàng thật, hàng chính hãng nếu bán hàng giả sẽ hoàn tiền 100%, nhưng sau đó tôi phát hiện ra đây là hàng giả. Tôi vẫn còn tin nhắn cam kết về việc đổi trả hàng trên facebook với cửa hàng đó vậy tôi có thế khởi kiện trong trường hợp họ không chịu làm đúng với cam kết trả lại tiền cho tôi hay không? Và dựa theo điều luật nào ?

=> Trường hợp này bạn có thể đòi lại tiền được vì giao dịch giữa bạn là giao dịch dân sự không bắt buộc phải lập thành văn bản. Bộ luật dân sự quy định:

"Điều 385. Khái niệm hợp đồng

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự."

Vậy lúc này bạn có thể khởi kiện yêu cầu người đó thực hiện đúng cam kết như 2 bên đã thỏa thuận.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Thưa luật sư, xin hỏi: Mẹ chồng e bị hack nick face book. Người hack nick đó đã dùng nick của mẹ chồng e và nhắn tin lừa thẻ điện thoại của rất nhiều người. Với nội dung là kinh doanh thẻ lãi 1 gấp 3. Và sẽ chia phần lãi cho người kia. Có người tin, người không tin. Nhưng số tiền người đó lừa được đã lên tới 50tr đồng. Vì có người nạp 2tr, 3tr, 5tr. Còn 1 chị bị lừa lên tới 40tr. Vậy bây giờ e phải làm ntn? Báo cho ai? Và cần những gì? Hiện tại e chỉ có tin nhắn làm bằng chứng còn những thẻ cào thù các nạn nhân đã đốt hoặc vứt hết đi rồi.

=> Hiện tại bạn chỉ có tin nhắn làm bằng chứng thì bạn cần phải có thông tin cá nhân của người đã giả mạo facebook của mẹ chồng bạn thì mới có thể tố cáo được.

Để thực hiện việc tố cáo, cần có trình tự tố cáo được quy định theo Luật tố cáo như sau:

Khi làm đơn, người tố cáo phải làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền qua đường bưu điện hoặc đến trực tiếp cơ quan.

Trong đơn tố cáo cần có nội dung chính gồm:

+ Tên cơ quan nhận đơn;

+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại (nếu có);

+ Họ, tên, địa chỉ của người bị tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

+ Nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan tiếp nhận Đơn tố cáo giải quyết và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc tố cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Thưa luật sư, xin hỏi: Ngày 10/11/2016 em có đăng bán 1 máy tính trị giá 12.900.000đ trên facebook và có 1 tài khoản tên L comment mua sản phẩm trên. Do bạn này người ở ĐL nên muốn chuyển hàng theo nhà xe và thanh toán tiền lại cho nhà xe. Cùng ngày trên em mang hàng ra gửi nhưng nhà xe không có bill nên chỉ viết giấy viết tay có nhận 1 laptop trị giá 12tr9( do lần đầu em gửi theo dạng thanh toán cho nhà xe). Sau đó nhà xe đi giao cho người nhận thì người nhận nói là đã chuyển khoản thanh toán cho bên em rồi (thực ra là chưa thanh toán), nhà xe không gọi lại xác nhận mà giao máy luôn. Giờ nhà xe chối bỏ trách nhiệm, còn khách hàng xóa comment, xóa facebook, giao hàng lại không phải tại nhà mà trên đường quốc lộ. Bây giờ em phải giải quyết như thế nào ạ? Em cũng chỉ là người làm công ăn lương, mất cũng đã mất rồi nhưng em muốn nhờ Công An điều tra được không ạ? Mọi người nói công an không giải quyết đâu?

=> Trường hợp này nếu bạn không còn ảnh chụp những tin nhắn và bình luận của bạn ấy về việc người đó đồng ý mua máy tính của bạn thì bạn cần phải có nhân chứng là phía người bên nhà xe xác nhận đã giao máy tính cho người đó. Nếu người bên nhà xe không xác nhận cho bạn thì bạn sẽ không có căn cứ để tố cáo.

Thưa luật sư, xin hỏi: 9 giờ ngày 20/11/2016 có 1 anh đến nhà em nạp thẻ chơi game. Do là khách quen chơi nhiều và cũng hay mua thẻ nên em không yêu cầu trả tiền luôn. Do lúc sơ ý mà anh ấy cũng để lại 1 chiếc máy tính bảng trên bàn nên em không để ý và anh ấy đã bỏ đi không quay lại. Hiện tại em chỉ có ảnh trên facebook và link facebook của anh ấy. Mong luật sư có cách nào giúp em với ạ. Em còn con nhỏ hơn 1 tuổi mà tiền thì đi vay để mua thẻ giùm người ta ( tất cả là 6 triệu ạ )

=> Trường hợp này bạn phải làm đơn trình báo lên cơ quan công an, tuy nhiên bạn phải có bằng chứng như băng ghi hình hay người chơi khác xác nhận về việc bạn có mua thẻ điện thoại cho anh ta.

Mẫu đơn tố cáo bạn tham khảo TẠI ĐÂY .

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?