- 1. Lịch sử ghi nhận biện pháp khám xét
- 2. Quy định về biện pháp khám xét một số quốc gia
- 3. Căn cứ khám xét theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- 4. Thẩm quyền ra lệnh khám xét
- 4. Câu hỏi thường gặp về khám xét
- 4.1 Có thể khám xét người mà không cần có lệnh khám xét khi nào?
- 4.2 Tìm người bị truy nã có thể khám xét chỗ ở hay không?
- 4.3 Cơ quan điều tra ra quyết định khám xét có phải thông báo cho Viện kiểm sát không?
1. Lịch sử ghi nhận biện pháp khám xét
Theo Đại từ điển tiếng Việt, "khám xét là lục tìm cái đang che giấu". Khám xét với tính chất là biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự lần đầu tiên được quy định tại các điều 9, 10, 11, 12, 13 Luật số 103-SL/L.005 ngày 20-5- 1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân. Điều 9 Luật này quy định: "Trừ những trường hợp quy định ở Điều 10 và Điều 11, khám người, đồ vật hoặc nhà ở, thư tín của tư nhân thì phải có lệnh viết của Cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trồ lên hoặc của Tòa án binh, tùy tính chất vụ phạm pháp". Điều 10 quy định: "Trong những trường hợp phạm pháp quả tang hoặc tiến hành điều tra vụ án mà can phạm đang bị tạm giữ hoặc tạm giam, hoặc được ủy quyền điều tra toàn bộ vụ phạm pháp, Tư pháp, Công an, Tòa án binh có thể khám người, đồ vật, nhà ở, thư tín của người phạm pháp và những người có liên quan đến vụ án" ; Điều 11 quy định: "Trong những trường hợp khẩn cấp hoặc có triệu chứng phạm pháp, Công an có thể khám người, đồ vật, nhà ở, thư tín". Tuy nhiên, Luật số 103-SL/L.005 ngày 20-5-1957, cũng như Nghị định số 301-TTg ngày 10-7-1957 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết Luật số 103-SL/L.005 lại chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý của khái niệm "triệu chứng phạm pháp" và đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc lạm dụng biện pháp này.
Điều 5 Sắc luật số 02-SL/76 ngày 15-3-1976 của Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật đã quy định việc bắt người, khám người, khám nhà ở, đồ vật trong trường hợp phạm tội quả tang tại Điều 2, bắt người, khám người, khám nhà ở, đồ vật trong trường hợp khẩn cấp tại Điều 3. Đáng chú ý, Điều 4 Sắc luật quy định cụ thể về việc lập biên bản khám người, khám nhà ở, khám đồ vật của kẻ phạm tội: "Cán bộ tiến hành việc khám ngưòi, khám nhà ở, khám đồ vật của kẻ phạm tội phải lập biên bản vể việc khám xét, đọc lại cho người bị khám xét nghe, yêu cầu họ cùng ký và trao cho họ một bản.
Nếu bắt được tang vật thì phải ghi rõ trong biên bản và chuyển ngay đến cơ quan An ninh hoặc Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền; nếu cần thì phải niêm phong hoặc cử người coi giữ.
Nghiêm cấm việc tự sử đụng, lấy cắp, thay đổi, làm mất, làm hự hởng tang vật".
Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, khám xét được qụy định tại các điều 115, 116, 117, 118, 119, 120, 122, 123, 124, trong đó quy định cụ thể về căn cứ khám ngưồi, chỗ ồ, địa điểm, đồ vật, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm, thẩm quyển ra lệnh khám xét, trình tự, thủ tục khám người, khám chỗ ở, địa điểm, biên bản khám xét, trách nhiệm của người ra lệnh và thi hành lệnh khám xét. Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm khám xét, nhưng nhộẸng quy dịnh nói trên đã thể hiện sự tiến bộ vê' kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự củạ Nhà nựớc ta về biện pháp cưỡng chế này.
2. Quy định về biện pháp khám xét một số quốc gia
Bộ luật tố tụng hình sự của các nước có quy định khác nhau về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện phâp khám xét. Ví dụ, Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định:
"1. Căn cứ để tiến hành khám xét là có đủ những tại. liệu đệ cho rằng ở một địa điểm hoặc trong một người, nào đó có thể có công cụ phạm tội, những vật, tài liệu có ý nghĩa dối với vụ án hình sự.
2. Việc khám xét được tiến hành căn cứ vào quyết dịnh của Dự thẩm viên.
3. Việc khám xét chỗ ở được tiến hành căn cứ vào quyết định của Tòa án, được ban hành theo thử tục được quy định tại Điều 165 Bộ luật này.
4. Trước khi khám xét, Dự thẩm viên công bể quyết định tiên hành khám xét, nếu trong những trường hợp quy định tại khoản 3 Điểu này, thì công bố quyết định của Tòà án cho phép tiến hành khám xét.
5. Trước khi tiến hành khám xét, Dự thẩm viên yêu cầu tự nguyện giao nộp những đồ vật, tài liệu và những vật có giá trị có thể có ý nghĩa đối với vụ án cần được thu giữ. Nếu chúng được giao nộp một cách tự nguyện và không có căn cứ để cho rằng chúng còn bị cất giấu, thì Dự thẩm viên có quyển không tiến hành khám xét.
6. Khi tiến hành khám xét, có thể mở bất kỳ chỗ nào nếu chủ nhà từ chối mở một cách tự nguyện, nhưng phải tránh gây hư hởng tài sản một cách không cần thiết.
7. Dự thẩm viên áp dụng các biện pháp để giữ bí mật về đời tư của người đang sống tại nơi tiến hành khám xét, về bí mật của cả nhân và gia đình người đó, cũng như của những người khác.
8. Dự thẩm viên có quyền cấm những người đang có mặt tại nơi tiến hành khám xét rời khỏi nơi này, tiếp xúc với nhau hoặc với những người khầc cho đến khi kết thúc việc khám xét" .
Như vậy, trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, chỉ có Dự thẩm viên và Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp khám xét; trình tự, thủ tục khám xét đước quy định cụ thể, thuận lợi cho việc thông nhất áp dụng pháp luật.
Khác với pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, thẩm quyền áp dụng biện pháp khám xét trong pháp luật tố tụng hình sự Hàn Quốc chỉ được giao cho Tòa án. Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự Hàn Quốc quy định:
"1. Khi cần thiết, Tòa án có thể khám xét người, tài sản, chỗ ở hay bất cứ địa điểm nào của bị cáo.
2. Người, tài sản, nơi ở hay những nơi khác của những người không phải là bị cáo chỉ có thể bị khám xét khi có đủ chứng cứ cho rằng ở đó có những vật cần tịch thu" . Điều 125 Bộ luật này quy định việc hạn chế khám xét vào ban đêm: "Trước khi rạng đông và sau khi hoàng hôn, thì sẽ không được tiến hành lệnh khám xét người, khu nhà, tòa nhà, máy bay hay tàu thủy hay phương tiện trừ khi trong lệnh ghi rõ sẽ được tiến hành trong đêm”.
Trong Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Malaixia, các trường hợp được ra lệnh khám xét được quy định tại Điều 54: "Khi
a) Tòa án có lý do để tin tưởng rằng người có tên trong quyết định theo quy định tại Điều 51 hoặc Điều 52 sẽ không xuất trình các tài liệu hoặc tài sản theo yêu cầu; hoặc
b) Tòa án không biết tài liệu hay tài sản này đang thuộc quyền chiếm hữu của ai; hoặc
c) Tòa án cho rằng có thể tiến hành kiểm tra hoặc khám xét chung vì mục đích thực hành công lý hoặc vì mục tiêu của việc thẩm tra, xét xử hay một thủ tục tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
Thì Tòa án có thể ra lệnh khám xét và người được chỉ thị trong lệnh có thể tiến hành khám và kiểm tra phù hợp với nội dung của lệnh khám xét".
Đáng chú ý, Điều 62 Bộ luật này quy định việc khám xét không cần lệnh:
"1. Trong trường hợp một nhân viên hoặc cảnh sát viên ngang cấp hoặc cao cấp hơn Thanh tra viên nhận được tin báo rằng có lý do hợp lý để giả định rằng có tài sản trộm cắp đang được cất giấu hoặc tàng trữ tại một địa điểm nào đó và nếu nhân viên hoặc cảnh sát viên nói trên có lý do để tin tưởng rằng nếu chờ đến khi có lệnh khám xét thì tài sản này có thể được chuyển đi nơi khác, thì người đó do chức trách của mình có thể khám xét địa điểm đó để tìm tài sản bị tố giác là tài sản trộm cắp nói trên.
2. Phải có một danh mục tài sản trộm cắp bị tố cáo là tài sản trộm cắp hoặc phải ghi lại danh mục các tài sản này cùng vối lời tuyên bố rằng người tố giác có lý do hợp lý để tin tưởng rằng tài sẳn này được cất giấu tại địa điểm đó.
3. Người có tài sản bị đánh cắp hoặc đại diện của người này phải cùng vổi nhân viên nói trên đến khám xét".
Phân tích quy định này cho thấy, trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Malaixia, trường hợp khám xét không cần lệnh khám xét đòi hởi phải tuân thủ các điểu kiện rất chặt chẽ.
3. Căn cứ khám xét theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 của nước ta, căn cứ khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm được quy định tại Điểu 192:
"Điều 192. Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử
1. Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.
Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.
2. Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử..”
Từ quy định trên cho thấy, để có thể áp dụng biện pháp khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, cần phải có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do người phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài lỉệu khác có liên quan đến vụ án.
Đối tượng khám xét là người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, do đó việc khám xét đụng chạm trực tiếp đên quyền tự do thân thể, quyển bất khả xâm phạm về chỗ ở, bí mật thư tín, điện tín, danh dự, nhân phẩm của con người. Vì vậy, khi áp dụng biện pháp này, cơ quan, ngưòi có thẩm quyền phải có các tài liệu, chứng cứ đủ để dự báo về khả năng trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu có hên quan đến vụ án, dấu vết của tội phạm hoặc các dấu vết khác có ý nghĩa đốì vối vụ án. Ngoài ra, khi có các tài liệu, chứng cứ đủ để dự báo khả năng người đang bị truy nẳ đang trốn tránh tại chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm nhất định, thì cũng có thể áp đụng biện pháp cưỡng chế này.
Để có thể áp dụng biện pháp khám thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, cần phải thu thập tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm liên quan chặt chẽ đến bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, khi áp dụng biện pháp này, cơ quan, người có thẩm quyền phải có các tài liệu, chứng cứ về việc thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm chứa đựng tài liệu, đồ vật, dấu vết có liên quan đến vụ án. Tính liên quan đến vụ án có cơ sở lý luận là nguyên tắc toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Căn cứ này đòi hỏi cơ quan, người có thẩm quyền khi quyết định áp dụng biện pháp khám thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, phải xem xét toàn diện các mốì liên hệ có liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, không phải cứ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nào có liên quan đến vụ án là phải áp dụng biện pháp này, mà phải thởa mãn điều kiện đủ là phải thu thập tài liệu, đồ vật để làm sáng tở bản chất của vụ án.
4. Thẩm quyền ra lệnh khám xét
Thẩm quyền ra lệnh khám xét được quy định tại Điểu 193 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Theo khoản 1 Điều 193, những người sau đây có quyền ra lệnh khám xét:
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;
- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh khám xét phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Theo khoản 2 Điều 193, trong trường hợp khẩn cấp, những người sau đây có quyền ra lệnh khám xét:
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưỗng Cơ quan điều tra các cấp;
- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khởi sân bay, bến cảng.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm "trường hợp khẩn cấp”. Tuy nhiên, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, trường hợp khẩn cấp được hiểu là trường hợp có căn cứ nhận định trong người, chỗ ở, địa điểm có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, người đang có lệnh truy nã, nếu không tiến hành khám xét ngay thì những đồ vật, tài liệu đó có thể bị tẩu tán, tiêu hủy, người đang bị truy nã có thể lẩn trốn hoặc bọn phạm tội có thể sẽ sử dụng những công cụ, phương tiện đó để tiếp tục phạm tội.
Kết luận: Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm khám xét như sau: Khám xét là biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng, hạn chế quyền tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, bí mật thư tín, điện tín của người bị áp dụng bằng cách tìm tòi, lục soát người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện, bắt người đang bị truy nã.
4. Câu hỏi thường gặp về khám xét
4.1 Có thể khám xét người mà không cần có lệnh khám xét khi nào?
Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
4.2 Tìm người bị truy nã có thể khám xét chỗ ở hay không?
Có. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
4.3 Cơ quan điều tra ra quyết định khám xét có phải thông báo cho Viện kiểm sát không?
Có. Nhằm mục đích để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp của mình do đó, cơ quan điều tra ra quyết định khám xét phải thông báo cho Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.