1. Khái niệm về biện pháp tự vệ

Biện pháp tự vệ là công cụ bảo vệ, hỗ trợ ngành sản xuất hàng hoá tương tự, hoặc cạnh tranh trực tiếp của nước nhập khẩu trong trường hợp khẩn cẩp nhằm hạn chế những thiệt hại nghiêm trọng do tình trạng gia tăng của hàng hoá nhập khẩu gây ra hoặc đe doạ gây ra.

 

2. Đặc điểm biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

- Là công cụ bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước trong trường hợp khẩn cấp, nhằm hạn chế những tác động không thuận lợi gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước do tình trạng gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu. 

- Về điều kiện để áp dụng, biện pháp chống phá giá và chống trợ cấp chỉ dừng lại ở mức cơ quan điều tra phải chứng minh có tình trạng bán phá giá hay trợ cấp và việc bán phá giá hoặc trợ cấp đó gây thiệt hại “đáng kể” cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước, thì trong các cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ, cơ quan điều tra phải chứng minh được tình trạng thiệt hại “nghiêm trọng” mà ngành sản xuất hàng hóa “tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp” trong nước phải hứng chịu do việc gia tăng “bất thường” của luồng hàng hóa nhập khẩu. 

- Về nguyên tắc áp dụng, để chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh của bên cung cấp hàng hoá nước ngoài thì nước nhập khẩu chỉ được đánh thuế chống phá giá hay thuế đối kháng vào số lượng hàng của nước cung cấp hàng hoá có hành vi cạnh tranh không lành mạnh đó mà không đánh thuế vào các mặt hàng của các nước khác không liên quan và không là đối tượng của thuế chống phá giá hay thuế đối kháng. 

 

3. Mục đích, vai trò biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

3.1 Mục đích

Mục đích của biện pháp tự vệ là dành sự bảo hộ tạm thời cho ngành sản xuất trong nước, để ngành này có thời gian điều chỉnh trước sức ép cạnh tranh. Tuy nhiên các biện pháp này rất dễ bị các quốc gia lợi dụng để bảo hộ sản xuất trong nước. Chúng biến thành các hàng rào phi thuế quan hiện đại, và có thể bị coi là biện pháp kìm hãm thương mại quốc tế.

 

3.2 Vai trò

- Giảm nhẹ hay trợ giúp khắc phục thiệt hại gây ra do việc nhập khẩu hàng hoá tăng một cách bất thường, không thể lường trước vào thị trường nội địa. 

- Góp phần tăng cường, khuyến khích tính cạnh tranh, khôi phục lại khả năng cạnh tranh thông qua việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất chứ không phải vì mục đích ưu đãi, bảo hộ ngành sản xuất trong nước hay hạn chế sự cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài trong thị trường nội địa. Bằng việc cho phép bảo hộ tạm thời, khi một biện pháp tự vệ được thực hiện sẽ cho phép ngành sản xuất đang yếu kém có thể thu được lợi nhuận, và tái đầu tư lợi nhuận vào những yếu tố của quá trình sản xuất nhằm giảm bớt chi phí và do đó khôi phục được lợi thế cạnh tranh khi sự bảo hộ chấm dứt.

Đẩy nhanh sự giảm bớt các ngành sản xuất không thể lấy lại được khả năng cạnh tranh một cách có trật tự. Tự do hóa thương mại phát sinh từ các nhượng bộ thuế quan và phi thuế quan. Sản phẩm của một số nước được thay thế bằng các sản phẩm nhập khẩu mới, có sức cạnh tranh cao hơn. 

 

4. Nội dung của hiệp định về biện pháp tự vệ

4.1. Quy định của GATT 1947

- Điều XIX Hiệp định GATT 1947 giải thích rõ những điều kiện và các thủ tục cho phép áp dụng các biện pháp tự vệ để đối phó với tình trạng nhập khẩu gia tăng.

- Một số điều khoản trong điều XIX này (ví dụ: thuế đối kháng hoặc chống bán phá giá) có phạm vi hẹp, việc áp dụng chúng chỉ giới hạn đối với các sản phẩm cụ thể có xuất xứ từ một quốc gia nhất định. Các biện pháp khác, chẳng hạn như quy định cho phép rút lại các nhượng bộ để giảm bớt sự mất cân bằng cán cân thanh toán, có phạm vi rộng hơn và có thể áp dụng cho các loại sản phẩm và nguồn nhập khẩu.

- Thông qua điều XIX, Chính phủ các nước đã nhất trí về những điều khoản miễn trừ nghĩa vụ tạm thời khi xảy ra tình thế cấp thiết.

"Nếu do hậu quả của những diễn biến không lường trước được của các tình huống và do kết quả của các cam kết theo Hiệp định này, khi một sản phẩm được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết đó với số lượng tăng mạnh và với điều kiện gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất sản phẩm tương tự hay cạnh tranh trực tiếp trong nước, thì bên ký kết có thể dừng toàn bộ hay một phần các cam kết, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng về thuế quan, trong chừng mực liên quan đến sản phẩm đó và trong thời gian cần thiết để dự liệu và khắc phục tổn hại đó"

"Nếu một bên ký kết đã chấp nhận một sự nhân nhượng liên quan tới một sự ưu đãi và sản phẩm là đối tượng ưu đãi được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết có tình huống như nêu tại điểm a) của khoản này tới mức mà nhập khẩu đó đã gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay trực tiếp cạnh tranh là các nhà sản xuất trên lãnh thổ của bên ký kết đang được hưởng hay đã được hưởng sự ưu dãi đó, bên ký kết này có thể đề nghị bên ký kết đang nhập khẩu và bên ký kết đang nhập khẩu có quyền tạm ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan đối với sản phẩm đó và trong thời gian cần thiết để ngăn ngừa và khắc phục tổn hại đó."

Như vậy, Điều XIX ủy quyền cho bên ký kết đang nhập khẩu khắc phục những tổn hại do việc nhập khẩu ảnh hưởng đến các ngành sản xuất trong nước dưới hình thức tăng thuế hoặc hạn chế định lượng. Khi làm như vậy, các điều khoản cơ bản sau đây sẽ được áp dụng:

 + Nghĩa vụ được rút lại có liên quan nhân quả đến việc gia tăng nhập khẩu

+ Việc rút lại điều chỉnh nhân nhượng chỉ là trong phạm vi và trong khoảng thời gian có thể cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục những tổn hại

 + Việc rút lại điều chỉnh nhân nhượng chỉ nhằm vào sản phẩm gây ra tổn hại chứ không phải bất kỳ sản phẩm nào khác.

       

4.2 Quy định của WTO

Các nguyên tắc về việc sử dụng biện pháp tự vệ trong WTO được quy định tại: Điều XIX GATT 1994 và Hiệp định về biện pháp tự vệ (Hiệp định SG). Các nước thành viên khi xây dựng pháp luật nội địa về biện pháp tự vệ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc này của WTO. Các vụ kiện, việc điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ trên thực tế được tiến hành theo pháp luật nội địa của từng nước nhập khẩu, phù hợp với quy định liên quan của WTO.

Hiệp định về các biện pháp tự về gồm các nội dung chính sau đây:

- Nhóm các quy định về điều kiện được phép áp dụng biện pháp tự vệ (Điều 2, điều 4)

Để có thể áp dụng một biện pháp tự vệ cho một sản phẩm chỉ khi thành viên đó đã xác định, chứng minh được tình trạng thiệt hại "nghiêm trọng" mà ngành sản xuất hàng hóa "tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp" trong nước phải hứng chịu do việc gia tăng "bất thường" của luồng hàng hóa nhập khẩu phù hợp với những quy định trong Hiệp định

- Nhóm các quy định về thủ tục điều tra và cách thức áp dụng biện pháp tự vệ (Điều 3, điều 4)

Và để chứng minh được tình trạng thiệt hại "nghiêm trọng" mà ngành sản xuất hàng hóa "tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp" trong nước phải hứng chịu do việc gia tăng "bất thường" của luồng hàng hóa nhập khẩu, các cuộc điều tra sẽ được các cơ quan tiến hành theo thủ tục được xây dựng và công bố phù hợp với Điều X của Hiệp định GATT 1994. Cơ quan có thẩm quyền sẽ công bố báo cáo kết quả điều tra của mình và các kết luận thỏa đáng trên cơ sở các vấn đề thực tế và pháp lý.

- Nhóm các quy định về biện pháp bồi thường (Điều 8)

Khác với các biện pháp chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh do hành động bán phá giá hay trợ cấp của Chính phủ, một nước thành viên khi áp dụng biện pháp tự vệ phải đảm bảo đền bù thỏa đáng cho nước bị áp dụng tự vệ thương mại. Việc đền bù này thường thông qua việc giảm thuế cho một số mặt hàng có lợi ích xuất khẩu cho nước bị áp dụng tự vệ thương mại. Mức độ đền bù phải tương đương đáng kể. Nếu các bên không thể thỏa thuận được mức độ bồi thường tương xứng thì các nước bị áp dụng tự vệ thương mại có thể áp dụng các biện pháp trả đũa. Tuy nhiên, quyền thực hiện trả đũa thương mại chỉ có thể tiến hành sau 3 năm kể từ khi biện pháp tự vệ thương mại thực hiện.

- Nhóm các quy định ưu tiên dành cho các nước đang phát triển (Điều 9)

WTO thừa nhận cần thiết phải dành cho những nước đang và chậm phát triển những điều kiện thuật lợi hơn trong thương mại quốc tế, dành cho các nước này những chế độ đãi ngộ đặc biệt và khác biệt trong thương mại quốc tế mà không yêu cầu có đi có lại trong các cam kết. Điều 9 Hiệp định về tự vệ thương mại của WTO qui định: Các biện pháp tự vệ thương mại không được áp dụng với hàng hóa có nguồn gốc từ một nước thành viên đang phát triển nếu như thị phần xuất khẩu hàng hóa của nước này tại nước nhập khẩu không vượt quá 3 %. Hoặc nếu có nhiều nước thành viên đang phát triển có thị phần từng nước dưới 3% và tổng thị phần của các nước này không lớn hơn 9 % thì không bị áp dụng tự vệ thương mại. Về phần mình, một nước thành viên đang phát triển lại có quyền mở rộng thời hạn áp dụng tự vệ thương mại với nước khác thêm 2 năm nữa so với thời hạn tối đa được áp dụng tự vệ thương mại thông thường là 8 năm

Ngoài ra, Hiệp định vẫn bảo lưu các quy định của GATT 1947, đồng thời cũng có những sửa đổi bổ sung cho phù hợp nhằm đảm bảo cho việc trao đổi, giao lưu thương mại giữa các quốc gia diễn ra thuận lợi, đảm bảo cho các quốc gia nhập khẩu không phải chịu những thiệt hại do tác động khi tham gia thương mại toàn cầu. Bên cạnh đó, Hiệp định cũng có quy định việc bảo vệ quyền lợi của các nước cung ứng hàng hóa khi bị nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp tự vệ.

Mọi vướng mắc quý khách vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 19006162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Trân trọng./.