1. Ví dụ về một biện pháp tự vệ bị kiện theo WTO

Argentina - Các Biện pháp Tự vệ về Nhập khẩu Giày dép, đơn khiếu nại của các Cộng đồng châu Âu (WT/DS121/1). Đơn khởi kiện này đề ngày 3/4/1998 về các biện pháp tự phòng vệ tạm thời và dứt khoát của Achentina đối với nhập khầu giầy dép. EC buộc tội rằng theo Nghị quyết 226/97 đề ngày 24/2/1997, Argentina áp dụng một biện pháp tự vệ tạm thời dưới hình thức các mức thuế nhập khẩu giày dép thi hành từ ngày 25/2/1997. Tiếp sau đó, Argentina đã ban hành Nghị quyết 987/97 đặt ra biện pháp tự vệ dứt khoát đối với việc nhập khẩu giày dép có hiệu lực từ ngày 13/9/1997. EC tranh cãi rằng các biện pháp trên vi phạm các Điều 2,4,5,6 và 12 của Hiệp định về các Biện pháp Tự vệ, và Điều XIX Hiệp định GATT 1994. Ngày 10/6/1998, EC đề nghị thành lập một bồi thẩm đoàn. Tại cuộc hợp ngày 23/7/1998, Ban giải quyết tranh chấp đã thành lập một bồi thẩm đoàn. Braxin, Indone­sia, Paraguay, Mỹ và Uruguay bảo lưu quyền là những bên thứba đối với cuộc tranh chấp này. Bồi thẩm đoàn kết luận rằng biện pháp của Argentina không phù hợp với các Điểu 2 và 4 của Hiệp định về các Biện pháp Tự vệ. Báo cáo của bồi thẩm đoàn được công bố vào ngày 25/6/1999. Ngày 15/9/1999, Argentina thông báo ý định kháng cáo về một số vấn đề về luật và về những diễn giải luật pháp của bồi thẩm đoàn. Cơ quan phúc thẩm ủng hộ quyết định của bồi thẩm đoàn cho rằng biện pháp của Argentina không phù hợp với các Điều 2 và 4 của Hiệp định về các Biện pháp Tự vệ, song đảo ngược một số kết qùầ và kết luận của bồi thẩm đoàn về vấn đề mối quan hệ giữa Hiệp định về các Biện pháp Tự vệ và Điều XIX Hiệp định GATT1994 và nói rõ rằng các biện pháp tự vệ chỉ áp dụng đối với các nguồn cung cấp của nước thứ 3 không nằm trong khôi Mercosur. Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được chuyển tới các thành viên ngày 14/12/1999. Ngày 12/2/ 2000 Ban giải quyết tranh chấp đẵ chấp thuận Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm và Báo cáo của bồi thẩm đoàn sau khi được Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm điều chỉnh. (Nguồn: website của WT0)

Nhận xét:

Đáng lưu ý là cả bồi thẩm đoàn và Cơ quan phúc thẩm kiểm tra kỹ báo cáo kết luận của mình về việc liệu Argentina có được biện minh đưa vào nhập khẩu từ các nước đối tác Mercosur trong việc phân tích hàng nhập khẩu, thiệt hại và hậu quả, trong khi miễn cho các nước này không phải áp dụng các biện pháp tự vệ. cả hai ví dụ điển hình của WT0 kết luận rằng cách giải pháp này không phù hợp Với các điều khoản của WT0, dù vì những lý do khác nhau.

 

2. Những quy tắc của công ước EFTA và FTAs do các nước EFTA ký kết về biện pháp tự vệ

Trước khi nói về các điều khoản tự vệ của Công uớc EFTA và các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) của Hiệp thương mại tự do châu Âu thì cần đề cập một cách ngắn gọn mối quan hệ giữa các biện pháp và các hiệp định ưu đãi ghi tại Điều XIX của Hiệp định GATT được ký kết theo Điều XXIV của Hiệp định GATT. Về nguyên tắc, những biện pháp tự vệ phù hợp với Điều XIX phải được áp dụng đối với tất cả các thành viên của GATT/WTO.

Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, trong các thỏa thuận ưu đãi cảc thành viên của GATT đã miễn cho các đối tác của mình hiệu lực của các biện pháp tự vệ. Nếu như không tính đến những chi tiết chuyên môn pháp lý của các trường hợp đang xem xét thì có thể nói rằng những biện pháp như vậy đã được thảo luận tại GATT nhưng vẫn chưa tìm được một giải pháp ràng buộc).

Giữa các nước EFTA với nhau (trong Công ước Stockholm) và với các đối tác FTA thông thường có một quy định giống như Điều XIX của Hiệp định GATT nhưng hơi khác về thủ tục. Ngoài những điều kiện đưa ra trong điều khoản của GATT, những FTAs cũng cho phép các hành động tự vệ khi có những rói loạn nghiêm trọng ở bất kỳ ngành nào hoặc khi có sự suy thoái kinh tế trong một khu vực.

Có một điều khoản đặc biệt với hiệu lực tương tự một điều khoản tự vệ thường trực trong một số FTAs đối với thời kỳ chuyển tiếp (thường kéo dài 10 năm và ưong thời kỳ này tất cả các loại thuế nhập khẩụ đều được bãi bỏ). Điều này cho phép các nước đối tác có nền kinh tế đang chuyển đối hoặc đang phát triển tránh bớt được việc loại bỏ các loại thuế quàn, hoặc tái áp dụng các loại thuế này trong những khoảng thời gian khác nhau nhằm tự vệnhững ngành công nghiệp non trẻ hoặc các ngành đang cấu lại hoặc đang gặp nhiều khó khăn.

Có những quy định cụ thể đối với một số ngành kinh tế nhất định. Từ khi một số hiệp định của Cộng đồng châu Âu với các nước thứ ba dự kiến khả năng bắt đầu các tham vấn trong trường hợp gia tăng nhập khẩu hàng dệt may nhằm thiết lập giới hạn xuất khẩu tối đa cho các đối tác đó thì các nước EFTA đã bảo lưu cho mình quyền tương tự trong các thoả thuận của mình với các nước này. Diễn biến tương tự đã xảy ra với việc xuất khẩu các sản phẩm thép của vài nước Đông Âu hưởng lợi từ những quy tắc đặc biệt hên

‘”Chú thích đối với Điều 2 của Hiệp định SG đã nêu rõ rằng “Không có trong Hiệp định này việc đânh giá sớm sự diễn giải mối quan hệ giữa Điều XIX và đoạn 8 của Điều XXIV của GATT 1994” liên quan đến viện trợ đối với ngành đó. Cuối cùng ít nhất trong một Hiệp định FTA do các nước EFTA ký kết, thì nước đối tác (Israel) bảo lưu quyền đưa ra những biện pháp tự vệ nếu các nhượng bộ về vấn đề xuất khẩu cá sẽ dẫn tới những nhiễu loạn hoặc gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho những nhà sản xuất trong nước những sản phẩm tưong tự hoặc những sản phẩm cạnh tranh trực tiếp.

Các nước EFTA cũng đưa ra các điều khoản tự vệ đối với xuất khẩu nhằm chống lại những ảnh hưởng tiêu cực ngoài ý muốn khi bãi bỏ những hạn chế xuất khẩu. Việc này nhằm hai mục đích:

(1) Để tránh các sản phẩm được hưởng ưu đãi lại tiếp tục được tái xuất sang nước thứ ba mà trong quan hệ với nước này, nước xuất khẩu đầu tiên lại đang duy trì các hạn chế thương mại (hạn chế số lượng hoặc thuế cao);

(2) Để ngăn chặn việc xuất khẩu các hàng hoá hoặc sản phẩm quan trọng mà nước xuất khẩu đang thiếu.

Trường hợp thứ nhất là một chứng tích lịch sử của thời kỳ áp dụng rào cản thuế quan cao. Trường hợp thứ hai là một mạng lưới an toàn mà các nước EFTA đã nhất định đòi áp dụng đối với EC nhằm xoá bỏ những giới hạn xuất khẩu đối với phế liệu phi kim loại cuối những năm 80.

Các FTA được các nước EFTA ký kết thường có một điều khoản với các thủ tục phải được tuân thủ khi áp dụng biện pháp tự vệ hoặc các biện pháp khác. Trước hết, điều khoản này nhắc nhở các bên phải nỗ lực giải quyết những khó khăn giữa họ thông qua tham khảo trực tiếp. Tuy nhiên trong trường hợp các biện pháp được áp dụng, thì các thủ tục quy định thông báo và tham khỏa (ngay từ đầu và đều đặn sau phần áp dụng các biện pháp tự vệ) khẳng định rằng các biện pháp nên được giới hạn về phạm vi cũng như về thời gian và có hạn cuối tuân thủ đối với các yếu tó quan trọng của các biện pháp. Một yếu tố đáng được đề cập là các biện pháp tự vệ chỉ bắt buộc áp dụng đối với nước (hoặc các nước) ỉà xuất xứ của luồng hàng (có lựa chọn) nhập gia tăng.

 

3. Điều khoản Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA) về biện pháp tự vệ

Kể từ khi Hiệp định EEA trở thành một hiệp định toàn diện điều chỉnh không chỉ về thương mại hàng hoá mà cả về các dịch vụ, vốn và dịch chuyển lao động cũng như những điều khoản chung và những điều khoản ngang liên quan đến 4 quyền tự do, câu hỏi chính được đặt ra là liệu nên có một điều khoản về tự vệ đối với toàn bộ hiệp định hoặc là có điều khoản khác nhau cho mỗi chương khác nhau hay không. Các bên tán thành phương án một điều khoản, trong đó nêu ra các điều kiện để thi hành các biện pháp tự vệ, các thủ tục phải tuân theo, khái niệm về giới hạn nhỏ nhất cần thiết cho việc giải quyết tình huống, và cảc biện pháp đối phó mà các bên đối tác khác thể áp dụng (tại các Điều 112-114). Ngoài những khó khăn về kinh tế, các vấn đề về xã hội và môi trường cũng đã được đề cập để cho phép áp dụng các biện pháp thích hợp. Hơn nữa, rõ ràng rằng, khi các biện pháp được triển khai thì uỷ ban hỗn hợp sẽ tổ chức thảo luận 3 tháng một lần.

4. Những điều khoản tự vệ ở các lĩnh vực khác với thương mại hàng hóa

4.1 Dịch vụ

Hiệp định Chung WTO về Thương mại Dịch vụ (GATS) cho phép thiết lập “Các Biện pháp Tự vệ Khẩn cấp” trên cơ sở không phân biệt đối xử (Điều X) bằng cách tổ chức các cuộc đàm phán đa phương để soạn thảo chúng.

Dù rằng vấn đề này đã được bàn đến nhiều lần nhưng chưa một cuộc đàm phán nào được tổ chức. Do đó trong bản Hiệp định này vẫn chưa có các biện pháp tự vệ hữu hiệu.

 

4.2. Việc di chuyển về người

Việc di chuyển con người không nằm trong các FTA do các nước EFTA ký kết. Tuy nhiên, vấn đề này cần phải được đưa ra giải quyết trong những hiệp định gần đây nhất giũa các nước EFTA với EU, ví dụ trong Hiệp định EEA và trong hiệp định song phương giữa Thụy Sỹ và EU, vấn đề này vẫn chưa có hiệu lực.

Như một phản ứng đối với sự kiên quyết của EU về tự do hóa nhiều hơn về điều khoản tự vệ đã được đưa ra nhằm cho phép một thành viên áp dụng biện pháp đối phó khi có quá nhiều người đến nước này, thông thường là ngừng việc nhập cảnh. Trong EEA, ý tưởng này nấp sau thuật ngữ “những khó khăn về xã hội” trong điều khoản tự vệ thường xuyên và đã dẫn chiếu ở trên. Trong bản dự thảo hiệp định song phương giữa Thụy Sỹ và EU thì một hệ thống nhiều nước về việc tự do di chuyển người và lao động đã được soạn ra cho phép các thành viên can thiệp bằng các biện pháp tự vệ khi có những hậu quả không mong muốn dự thảo xảy ra đối với thị trường lao động trong nước.

 

4.3. Những điều khoản về cán cân thanh toán

Một biện pháp tự vệ khác trong những điều khoản về cán cân thanh toán được nêu trong GATT/WTO cũng như trong FT As do các nước EFTA ký kết. Họ cho phép một nước đang phải đối mặt hoặc chịu thiệt hại vì những khó khăn nghiêm trọng về cán cân thanh toán được áp dụng với những điều khoản nhất định, những biện pháp tự vệ có giới hạn thời gian và thường bao gồm các hạn chế nhập khẩu.

Những khó khăn về cán cân thanh toán thường không chỉ do những diễn biến liên quan đến thương mại gây ra (chẳng hạn như sự tăng nhập khẩu do thuế quan thấp hơn). Do đó, các hạn chế thương mại đi kèm với các biện pháp tự vệ kinh tế khác thường là rất cần thiết để khắc phục gốc rễ của vấn đề. Điều này giải thích tại sao IMF và WTO lại hợp tác chặt chẽ với nhau ưong những trường hợp như vậy để đảm bảo rằng nước gặp khó khăn xem xét tất cả các khía cạnh cũng như các giải pháp.

Ngược với các biện pháp tự vệ nêu trên thì những khó khăn về cán cân thanh toán thường không cụ thể ở một ngành nào, do đó nói chung yêu cầu có một giải pháp có ảnh hưởng như nhau đối với mọi mặt hàng nhập khẩu (thường là đánh thuế phụ thu nhập khẩu đối với tất cả sản phẩm). Đối với lý do tương tự, yêu cầu này sẽ có ý nghĩa hơn khi mà những khó khăn như thế được xem xét trong một tổ chức với số thành viên rộng rãi (WTO) chứ không bố hẹp trong phạm vi một FTA. Vì thế, các nước EFTA thường tham gia kiện tụng tại GATT và WTO tương ứng khi một đối tác FTA gặp những khó khăn về cán cân thanh toán, cho dù những điều khoản như thế tồn tại trong các FTA.

Bằng việc yêu cầu các tiêu chí bớt nghiêm ngặt hơn cho các nước đang phát triển đối với việc sử dụng lao động, các quy tắc này có tính đến những nhu cầu trong lĩnh vực khác với những nhu cầu của các nước phát triển. Những biện pháp liên quan đến thương mại góp phần khắc phục những khó khăn về cán cân thanh toán dựa theo giá cả; những hạn chế về số lượng chỉ nên áp dụng khi bằng cách khác thì không thể ngăn chặn được sự mất giá của tiền tệ. Các biện pháp được áp dụng tạm thôi và theo thói quen, áp dụng với mức nhập khẩu chung (dù cũng có những ngoại lệ cho các sản phẩm được cho là thiết yếu). Các biện pháp được quẫn lý theo một phương thức rõ ràng ưong đó có việc thông báo cho các thành viên khác của WTO lần lượt có quyền xem xét những khó khăn cũng như các biện pháp áp dụng nhằm làm giảm khó khăn tại uỷ ban WTO về những Hạn chế cán cân thanh toán

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)