Khách hàng: Kính thưa Luật sư Kính mến, liên quan đến năng lực áp dụng biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế thì có những khái niệm chính nào cần chú ý đến vấn đề này?
Cảm ơn Luật sư!
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi, câu trả lời của bạn chúng tôi sẽ trả lời trên những ý sau:
1. Năng lực áp dụng biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế
Thông thường, khái niệm năng lực theo nghĩa hẹp chỉ đề cập đến con người và những yếu tố liên quan đến con người cụ thể khi thực hiện các nhiệm vụ hay hành động có chủ đích nào đó.
Trong khuôn khổ chúng ta nghiên cứu về "Năng lực" này là sẽ nghiên cứu về năng lực áp dụng biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế được xem xét trên phương diện là năng lực xây dựng các qui định pháp lý về tự vệ trong thương mại quốc tế và năng lực tổ chức, quản lý và thực hiện/áp dụng biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá (năng lực tổ chức và cá nhân) của một quốc gia.
Trong thương mại quốc tế hàng hoá, dịch vụ được di chuyển qua biên giới các quốc gia. Vì vậy, hoạt động thương mại quốc tế phụ thuộc nhiều vào chính sách thương mại của các nước liên quan, đặc biệt là việc quản lí thương mại quốc tế thông qua các công cụ chính sách như thuế, hạn ngạch và các công cụ, biện pháp phi thuế quan khác của các nước. Chính phủ các nước có thể sử dụng các hàng rào (thuế quan và phi thuế quan) để ngăn ngừa hay điều tiết luồng hàng hoá nhập khẩu để bảo vệ sản xuất, thị trường và doanh nghiệp trong nước, hoặc cũng có thể sử dụng các công cụ khác nhau như các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp (trợ cấp không bị khiếu kiện, trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện) và trong khuôn khổ của cuốn sách này sẽ tập trung đề cập đến biện pháp tự vệ trong nhập khẩu để giúp các doanh nghiệp trong nước tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, cũng như sản xuất trong nước chống đỡ với luồng hàng hoá nhập khẩu quá mức theo cam kết và qui định quốc tế.
Trong khung khổ WTO, mỗi nước nhập khẩu là thành viên WTO đều có quyền áp dụng biện pháp tự vệ, nhưng khi áp dụng phải bảo đảm tuân theo các qui định của WTO mà ở đây là Hiệp định về các biện pháp tự vệ. Đây là Hiệp định qui định khi nào và bằng cách nào các nước thành viên có thể vận dụng Điều XIX của GATT về qui định khả năng áp dụng hành động khẩn cấp để bảo vệ ngành sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp) trong nước khỏi việc gia tăng khối lượng hàng hoá nhập khẩu không lường trước đang gây ra hoặc có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng tới ngành sản xuất của quốc gia.
Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết và là cơ sở để các cơ quan nhà nước/cơ quan của chính phủ thực hiện áp dụng biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế là phải có yêu càu áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của các doanh nghiệp hoặc đại diện pháp lý của họ. Như vậy, năng lực áp dụng biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế còn phụ thuộc vào năng lực của doanh nghiệp trong việc xác định được thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước, làm cơ sở để đệ đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ thương mại lên các cơ quan chức năng giải quyết.
2. Tự vệ trong thương mại quốc tế
Thuật ngữ “tự vệ” theo WTO được hiểu là hành động khẩn cấp của nước nhập khẩu trước việc gia tăng nhập khẩu của một loại hàng hoá cụ thể, khi mà sự gia tăng nhập khẩu này gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất hàng hóa đó trong nước.
Tuy nhiên, đây chỉ là quan niệm, cách hiểu cơ bản và vận dụng về biện pháp tự vệ, không phải là định nghĩa phản ánh đầy đủ bản chất của hành động tự vệ. Vì vậy, trong các tài liệu nghiên cứu về tự vệ của WTO có đưa ra thêm một số giải thích bổ sung.
Chẳng hạn như, trong tài liệu giải thích về Điều XIX Hiệp định GATT 1994, ở mục 797 khi nhắc đến phán quyết của Uỷ ban phúc thẩm trong vụ kiện Argentina - Footwear nêu rõ biện pháp tự vệ theo qui định tại Điều XIX có đặc trưng là tính khẩn cấp, được áp dụng chỉ duy nhất trong trường hợp mà do kết quả của việc thực hiện nghĩa vụ theo Hiệp định GATT 1994, một thành viên nhận thấy quốc gia mình rơi vào những hoàn cảnh mà “không lường trước được” hoặc “ngoài dự đoán” khi đặt ra/đàm phán và ký kết cam kết liên quan.
Yong Shik Lee, Safeguard Measures in world trade, The Legal Analysis, Third Edition (2014) (Các biện pháp tự vệ trong thương mại thế giới: Phân tích pháp lý. Tái bản lần 3 (2014)) xác định, thuật ngữ “biện pháp tự vệ” được sử dụng để đề cập đến hạn chế nhập khẩu, được áp dụng như là một biện pháp tạm thời khi có sự gia tăng nhập khẩu gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa của sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp. Theo Yong Shik Lee, tự vệ còn có thể hiểu rộng hơn, gồm những trường hợp các bên “dị ngược lại” với những cam kết của mình và hạn chế nhập khẩu, không tính đến việc có hay không hành vi thương mại không lành mạnh: Điều XIX, XII, XVIII Hiệp định GATT 1994, Hiệp định Tự vệ (Hiệp định SG), Hiệp định nông nghiệp (AOA), Điều XII Hiệp định GATS. Nghị định thư gia nhập WTO của Trung Quốc, cho phép tự vệ cụ thể và đặc biệt là đến các sản phẩm trong thời gian chuyển đổi, chỉ áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu từ nước này. Biện pháp tự vệ nói chung (Điều XIX của GATT) được áp dụng cho mọi loại hàng hoá, trong khi những biện pháp tự vệ khác chỉ áp dụng giới hạn cho một số hàng hoá (sản phẩm nông nghiệp, dệt may), hoặc có thể không hướng đến việc bảo vệ hay ngăn ngừa thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước (đối với trường hợp sử dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ cán cân thanh toán).
Mặc dù có nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau, nhưng để có thể hiểu và sử dụng khái niệm này trong thực tế, và phù hợp với quan niệm cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế, trong phạm vi của cuốn sách này, biện pháp tự vệ được sử dụng sẽ là: “Biện pháp tự vệ là một trong ba bộ phận cẩu thành của biện pháp phòng vệ thương mại. Biện pháp tự vệ là công cụ bảo vệ, hỗ trợ ngành sản xuất hàng hoả tương tự, hoặc cạnh tranh trực tiếp của nước nhập khẩu trong trường hợp khẩn cẩp nhằm hạn chế những thiệt hại nghiêm trọng do tình trạng gia tăng của hàng hoá nhập khẩu gây ra hoặc đe doạ gây ra”.
Biện pháp tự vệ thường được áp dụng một cách khắt khe hơn và phức tạp hơn biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, vì để áp dụng biện pháp này, cơ quan điều tra phải chứng minh được tình trạng thiệt hại nghiêm trọng mà ngành sản xuất hàng hoá tương tự hoặc hàng hoá cạnh tranh trực tiếp trong nước phải chịu do sự gia tăng (về quy mô, số lượng) của hàng hoá nhập khẩu. Biện pháp tự vệ là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hoá khi việc nhập khẩu những hàng hoá đó tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước.
3. Phòng vệ thương mại quốc tế
Theo Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế (2017), Cẩm nang tích hợp các FTA theo lĩnh vực - Hướng dẫn thực thi cam kết về phòng vệ thương mại và giải quyết tranh chấp. NXB Hồng Đức, Hà Nội, phòng vệ thương mại là một phần trong chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia, bao gồm: chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Các biện pháp phòng vệ thương mại này được sử dụng nhằm bảo vệ hợp pháp thị trường và các ngành sản xuất trong nước (như nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp non trẻ, hay các lĩnh vực nhạy cảm trong xã hội...) trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Ngoài ra, các biện pháp phòng vệ thương mại còn được sử dụng như hàng rào hạn chế gia nhập thị trường của các đối tác nước ngoài.
Tự do hoá thương mại quốc tế đồng nghĩa với cắt giảm và loại bỏ thuế quan (theo lộ trình cam kết và dần tới loại bỏ hoàn toàn), dẫn đến các ngành sản xuất trong nước vốn vẫn được bảo vệ bởi chính sách thuế cao trước đó bị lâm vào tình thế khó khăn và có khả năng sụp đổ khi phải cạnh tranh với các đói thủ nước ngoài có tiềm lực mạnh mẽ hơn về mọi mặt. Thêm vào đó, khi hàng hoá nước ngoài nhập khẩu vào một thị trường nhiều và dễ dàng hơn, kẻo theo nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh với các mục tiêu kinh tế khác nhau, gây thiệt hại cho các ngành sản xuất trong nước của nước nhập khẩu.
Các quốc gia có thể tuỳ vào từng trường hợp, áp dụng biện pháp phòng vệ cụ thể như chống bán phá giá, chống trợ cấp, hoặc tự vệ đối với hàng hoá nhập khẩu, nếu chứng minh được những thiệt hại thông qua điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại hay chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.
Tuy nhiên, để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, các biện pháp phòng vệ thương mại còn được sử dụng như công cụ trá hình nhằm hạn chế hàng hoá nhập khẩu, mặc dù WTO đã có những qui định, những nguyên tắc về thủ tục nhằm đưa việc áp dụng những biện pháp phòng vệ thương mại này vào khung khổ pháp lý cụ thể thông qua ba Hiệp định về Chống bán phá giá; Hiệp định về Trợ cấp và Thuế đối kháng; và Hiệp định về Tự vệ, nhằm hạn chế tối đa tình trạng lạm dụng các biện pháp này.
4. Thương mại quốc tế
“Thương mại quốc tế" là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Đó là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất qua biên giới giữa các quốc gia, hoặc/và là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất giữa các tổ chức cá nhân trong nước với đối tác nước ngoài. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) xem xét thương mại quốc tế trên 4 lĩnh vực chủ yếu là thương mại hảng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến đầu tư và thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, phạm vi nghiên cứu và thực tiễn các chính sách quản lý đối với thương mại quốc tế đã được mở rộng ra nhiều lĩnh vực và chủ thể hơn, như liên quan đến mối quan hệ giữa con người với con người như lao động việc làm, quyền con người..., và mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên như môi trường, ...
Xét trên phương diện là một quá trình kinh tế, thương mại quốc tế là một quá trình có phạm vi và qui mô quốc tế, bắt đầu từ khâu nghiên cứu xác định thị trường cho đến sản xuất, lưu thông đến người tiêu dùng cuối cùng và theo một chu trình lặp đi lặp lại với qui mô, tốc độ lớn hơn. Trên phương diện là một ngành kinh tế, thương mại quốc tế là một lĩnh vực phân phối được chuyên môn hoá, có tổ chức, có phân công và hợp tác giữa các đối tác của hai hay nhiều quốc gia với nhau với khách thể tác động là hàng hoá, dịch vụ...
Thương mại quốc tể bao gồm quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể của các nước khác nhau, các chủ thể có quốc tịch khác nhau. Vì vậy, thương mại quốc tế liên quan đến rất nhiều các vấn đề khác nhau giữa các quốc gia, giữa các danh nghiệp mỗi quốc gia và thậm chí giữa doanh nghiệp với quốc gia.
Thương mại quốc tế đóng một vai trò rất quan trọng đối với các quốc gia. Nó cho phép các quốc gia tiêu dùng các mặt hàng với số lượng nhiều hơn và chủng loại phong phú hơn mức ranh giới của đường giới hạn khả năng sản xuất trong điều kiện đóng cửa nền kinh tế của mỗi nước. Bên cạnh đó, thương mại quốc tế có sự tác động qua lại, buộc mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế phù hợp với ngành nghề, vùng miền và thành phần kinh tế với đặc thù và lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia.
Thương mại quốc tế ngày nay không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là mua bán giữa các quốc gia mà thể hiện sự phụ thuộc tất yếu của các quốc gia vào phân công lao động quốc tế thông qua chuỗi cung ứng quốc tế. Vì vậy, thương mại quốc tế được nhìn nhận như một nhân to quan trọng để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên cơ sở lựa chọn tối ưu phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế.
5. Đặc điểm thương mại quốc tế
a. Chủ thể thực hiện hoạt động thương mại
Hoạt động thương mại là quan hệ giữa các thương nhân hoặc ít nhất một bên là thương nhân, người thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại có tính chất nghề nghiệp
Bên còn lại trong hoạt động thương mại có thể được xác định là thương nhân, nhưng cũng có thể được xác định không phải là thương nhân như cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh được điều chỉnh pháp luật.
b. Mục đích của người thực hiện hoạt động thương mại
Mục đích chính của người thực hiện hoạt động thương mại là lợi nhuận, sinh lời.
c. Nội dung của hoạt động thương mại
Nội dung hoạt động thương mại gồm hai nhóm hoạt động cơ bản là mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ (thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ). Ngoài ra, các hình thức đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận cũng là những hoạt động thương mại.
d. Hàng hóa, dịch vụ các chủ thể được phép kinh doanh
Chủ thể thực hiện hoạt động thương mại được phép thực hiện kinh doanh tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ được phép kinh doanh theo quy định của pháp luật, trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề theo quy định của pháp luật.
e. Phạm vi thực hiện hoạt động thương mại
Phạm vi thực hiện hoạt động thương mại không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà còn được thực hiện ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trong phạm vi khu vực và thế giới, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và phù hợp với xu thế toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh tế. Thông qua đó khẳng định vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
Trân trọng!