Kính chào công ty Luật Minh Khuê. Tôi có vấn đề thắc mắc liên quan đến lĩnh vực lao động mong được luật sư giải đáp. Bộ luật lao động quy định như thế nào về thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động và giao kết nhiều hợp đồng lao động? Kính mong luật sư có thể phân tích cụ thể giúp tôi về những quy định này. Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Ngọc Huân - Cao Bằng

được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162

Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2019

1. Hợp đồng lao động là gì?

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

2. Thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động

2.1. Quy định về thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động

Điều 18 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động như sau:

1. Người lao động trực tiếp giao kết hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động; trong trường hợp này, hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và có hiệu lực như giao kết với từng người lao động.

Hợp đồng lao động do người được ủy quyền ký kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú và chữ ký của từng người lao động.

3. Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;

b) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;

c) Người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;

d) Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động.

4. Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người đó;

c) Người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;

d) Người lao động được những người lao động trong nhóm ủy quyền hợp pháp giao kết hợp đồng lao động.

5. Người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động không được ủy quyền lại cho người khác giao kết hợp đồng lao động.

2.2. Bình luận quy định về thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động

Thứ nhất, đối với người lao động

Người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động, bởi hợp đồng lao động có tính đích danh khi giao kết và thực hiện. Để có thể tự mình thực hiện nghĩa vụ phải gánh chịu trách nhiệm và thụ hưởng quyền lợi trong quan hệ lao động thì người lao động phải biết, hiểu rõ và tự nguyện với các cam kết của mình, vì vậy, người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động.

Người lao động tham gia giao kết hợp đồng lao động phải là người có đủ tư cách, điều kiện chủ thể người từ đủ 18 tuổi trở lên, đối với người lao động có năng lực chủ thể hạn chế từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc dưới 15 tuổi thì cần có sự tham gia hoặc đồng ý của người đại diện theo pháp luật.

Tuy nhiên trong một số trường hợp người lao động có thể ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng, xong cũng chỉ áp dụng trong một số trường hợp nhất định và kèm theo những ràng buộc chặt chẽ như: đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động, đây là công việc thường được thực hiện trong thời gian ngắn, giữa những người lao động có mối liên hệ chặt chẽ về tính chất công việc, sự liên quan trong lao động, thời hạn hợp đồng.

Việc ký kết hợp đồng trong trường hợp này phải bằng văn bản, kèm theo danh sách có đủ thông tin về nhân thân và chữ ký của người lao động. Trong trường hợp này hợp đồng có hiệu lực như ký với từng người lao động. Người được ủy quyền giao kết hợp đồng không được ủy quyền lại cho người khác.

Thứ hai, người sử dụng lao động

Người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật; đối với hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thì có người đại diện giao kết hoặc người được những người có thẩm quyền nói trên ủy quyền theo quy định của pháp luật.

Đối với người sử dụng lao động là cá nhân thì trực tiếp giao kết hợp đồng lao động và không được ủy quyền cho người khác. Quy định về người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động như vậy là phù hợp và tương thích với Bộ luật dân sự và Luật doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.

3. Giao kết nhiều hợp đồng lao động

3.1. Quy định về giao kết nhiều hợp đồng lao động

Điều 19 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về giao kết nhiều hợp đồng lao động như sau:

"1. Người lao động có thể giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết.

2. Người lao động đồng thời giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động."

3.2. Bình luận quy định về giao kết nhiều hợp đồng lao động

Điều 19 quy định cụ thể quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao động. Theo đó người lao động có quyền tự chọn, quyết định số lượng quan hệ lao động mà mình tham gia với điều kiện thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết trong từng hợp đồng. Về quy định này, vẫn còn xuất hiện những ý kiến băn khoăn liên quan đến việc áp dụng bộ luật lao động trong trường hợp nói trên, cụ thể:

Một là về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi. Đối với người lao động tham gia nhiều quan hệ lao động mà tổng thời gian làm việc cộng lại vượt quá 8 giờ/ngày (ví dụ hợp đồng 1 là 4 giời/ngày, hợp đồng 2 là 6 giờ/ngày thì có bị coi là vi phạm hay không tương tự vấn đề làm thêm giờ, nghỉ hằng năm cũng vậy.

Hai về tiền lương: theo quy định, tiền lương của người lao động không thấp hơn tiền lương tối thiểu vùng theo quy định của nhà nước, quy định này áp dụng trong trường hợp trong từng hợp đồng hay với tất cả các hợp đồng? Nếu áp dụng với từng hợp đồng thì mức lương tối thiểu của người lao động lại rất cao ví dụ: hợp đồng một làm 4 giờ/ngày, hợp đồng 2 làm 4 giờ/ngày, trường hợp này người lao động làm tổng cộng 8 giờ/ngày nhưng mức lương tối thiểu lại gấp đôi người làm một hợp đồng có thời gian làm việc 8 giời/ngày.

Các tình huống trên cho thấy, điều quan trọng ở đây là cần thống nhất nhận thức về quy định liên quan đến thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, tiền lương là trách nhiệm của người sử dụng lao động hoặc người lao động hay trách nhiệm của cả hai bên và vai trò của nhà nước.

Người lao động khi giao kết nhiều hợp đồng lao động thì quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp vẫn được bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Về bảo hiểm xã hội, theo quy định tại khoản 4 Điều 85 luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà giao kết nhiều hợp đồng lao động thì:

Người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 2 của luật này mà giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì chỉ đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 điều này đối với hợp đồng lao động giao kết đầu tiên.

Về bảo hiểm y tế, theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật bảo hiểm y tế năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì: trường hợp đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 luật này có thêm một hoặc nhiều hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên thì đóng bảo hiểm y tế hợp đồng lao động có mức tiền lương cao nhất.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 quy trình thu bảo hiểm xã hội bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế ban hành kèm theo quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam thì: người lao động đồng thời có từ hai hợp đồng lao động trở lên với nhiều đơn vị khác nhau thì đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên, đóng bảo hiểm y tế hợp đồng lao động có mức tiền lương cao nhất, đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng lao động.

Dựa trên cơ sở các quy định pháp luật nói trên thì nếu người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì:

Bảo hiểm xã hội: chỉ tham gia ở một nơi chị hợp đồng lao động đầu tiên, những nơi khác không phải tham gia

Bảo hiểm y tế: chỉ tham gia nữa ký hợp đồng lao động có mức tiền lương cao nhất, những nơi khác không phải tham gia

Bảo hiểm thất nghiệp: chỉ tham gia ở một nơi ký hợp đồng lao động đầu tiên, những nơi khác không phải tham gia

Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: phải tham gia tất cả mọi nơi nếu ký hợp đồng lao động từ một tháng trở lên.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung "bình luận quy định của Bộ luật lao động năm 2019 về thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động và giao kết nhiều hợp đồng lao động". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập