Trả lời:

1. Khái quát chung

Mặc dù trong Phần chung Bộ luật Hình sự Việt Nam (năm 1999) đã có các điểm mới và khác mà có thể được coi là ưu điểm vượt trội và không thể phủ nhận được so với Bộ luật trước đó (năm 1985) nhưng nếu xem xét theo 05 tiêu chí bắt buộc về kỹ thuật lập pháp của một văn bản lập pháp hình sự ưu việt trong nhà nước pháp quyền như xem xét về sự chặt chẽ về mặt cấu trúc; sự nhất quán về mặt logic pháp lý; tính chính xác về mặt khoa học cùng với sự khả thi về mặt thực tiễn;... thì khi tiếp tục đi sâu phân tích nội hàm các quy phạm Phần chung trong văn bản lập pháp hình sự thứ hai này của đất nước, cụ thể là hai chế định đạo luật luật hình sự và chế định tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 1999 có thể dễ dàng nhận thấy vẫn còn tồn tại một số hạn chế cho đến khi nó hết hiệu lực thi hành mà dưới đây là các hạn chế cơ bản, dưới đây chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi của bạn với những ý như sau:

 

2. Kỹ thuật lập pháp về hình thức, nhiệm vụ pháp luật hình sự của đạo luật hình sự

a. Kỹ thuật lập pháp về hình thức

Chưa có sự nhất quán so với luật hình thức. Trong khi luật hình thức là Bộ luật Tố tụng hình sự (năm 2003) được ban hành và có quy phạm ghi nhận việc giải thích từ ngữ để làm rõ rất nhiều các thuật ngữ pháp lý có trong Bộ luật nhưng Bộ luật Hình sự (năm 1999) kể cả tại thời điểm ban hành cũng như tại thời điểm sửa đổi, bổ sung sau đó vào năm 2009, tức là 06 năm sau khi có Bộ luật Tố tụng hình sự (năm 2003) cũng không có quy phạm này. Vì vậy để bảo đảm cho đội ngũ cán bộ thực tiễn của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án (nhất là ở các địa phương) nhận thức khoa học đúng và áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật hình sự mới được ban hành, thì rõ ràng là luật nội dung (Bộ luật Hình sự) cũng rất cần thiết phải có quy phạm đề cập vấn đề này để bảo đảm sự tương xứng và đồng bộ giữa hai ngành luật về tư pháp hình sự có liên quan thiết thực nhất đến công cuộc phòng ngừa và đấu tranh chông tội phạm trong đất nước.

Đối với Chương I và Chương II thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999) đề cập những vấn đề liên quan và gần với nội dung của chính “đạo luật hình sự”, chứ không phải là của một “điều khoản cơ bản” nào hết và chính vì vậy, nên chăng sẽ là hợp lý hơn nếu như nhà làm luật sửa đổi chúng thành các chương vối tên gọi chung thể hiện đúng bản chất pháp lý của cả từng chương và sắp xếp chúng thuộc Phần thứ nhất “Về đạo luật hình sự” thì mới thực sự bảo đảm sự chính xác về mặt khoa học.

 

b. Nhiệm vụ của pháp luật hình sự

Quy phạm về nhiệm vụ của pháp luật hình sự tại Điều 1 Bộ luật Hình sự (năm 1999) vẫn còn tồn tại một số nhược điểm cơ bản về mặt kỹ thuật lập pháp chưa được khắc phục, ta có thể kể đến như sau:

Thứ nhất, quy phạm tại đoạn 1 Điều 1 Bộ luật khi đề cập nhóm các khách thể loại mà Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ phải bảo vệ mặc dù được liệt kê rất nhiều nhưng vẫn còn thiếu một loạt các khách thể loại khác rất quan trọng như: môi trường, chế độ kinh tế, hòa bình và an ninh của nhân loại (trong khi chúng vẫn được bảo vệ bằng các quy phạm tại Phần riêng), mà lẽ ra chỉ cần liệt kê gộp chúng vào 3 (hoặc 4) nhóm các khách thể loại lớn cần phải được Bộ luật Hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm là đầy đủ và chính xác như: Chế độ hiên định (vì trong Hiến pháp năm 2013 có quy định tất cả các nhóm khách thể loại quan trọng nhất của một quốc gia là chế độ chính trị, trật tự pháp luật, an ninh, quốc phòng, kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, môi trường,...); Nhân thân (hoặc cụ thể hóa phạm trù này thành tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm); Các quyền và tự do của con người (vì nó khác vối “quyền, lợi ích hợp pháp của công dân” đã được quy định rồi) và cuối cùng là; Hòa bình và an ninh của nhân loại.

Về quy phạm tại đoạn 2 Điều 1 ghi nhận rằng, Bộ luật quy định "tội phạm và hình phạt” rõ ràng chưa đầy đủ vì vẫn còn thiếu rất nhiều các chế định pháp lý hình sự khác nữa cũng đã được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự (năm 1999). Vì thực chất là trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) quy định không phải chỉ có mỗi hai chế định lớn về “tội phạm” và “hình phạt” mà ngoài hai chế định lớn này ra thì trong Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999) cũng như trong Bộ luật Hình sự (năm 1985) còn quy định ít nhất là 05 chế định pháp lý hình sự lớn và nhỏ khác nữa mà bản chất pháp lý của chúng hoàn toàn khác chứ không thể đồng nhất chung vói bản chất pháp lý của “tội phạm” và “hình phạt”.

Ví dụ: Chế định trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có các chế định nhỏ thuộc nó như: sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết,...

>> Xem thêm: Chế định tội phạm trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 2015

 

3. Kỹ thuật lập pháp về nguyên tắc của pháp luật hình sự, hiệu lực hồi tố, dẫn độ và thời gian phạm tội

a. Kỹ thuật lập pháp về nguyên tắc của pháp luật hình sự

Về chế định các nguyên tắc của pháp luật hình sự mặc dù là một chế định chủ yếu có những đặc điểm sau:

- Đã từ lâu được làm sáng tỏ về mặt lý luận trong khoa học luật hình sự Việt Nam;

- Cùng với chế định lớn về trách nhiệm hình sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự để bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân bằng pháp luật hình sự;

- Chế định này cũng đồng thời pháp luật hình sự quốc gia cũng đã trải qua hơn 10 năm thi hành Bộ luật Hình sự (năm 1985).

Tuy nhiên rất tiếc là cho đến lần pháp điển hóa thứ hai pháp luật hình sự thực định vẫn chưa nghiên cứu ra được nội hàm các quy phạm về nguyên tắc của pháp luật hình sự để ghi nhận chúng vào Bộ luật Hình sự (năm 1999) này.

 

b. Kỹ thuật lập pháp về thời gian phạm tội

Về vấn đề thời gian phạm tội mặc dù cũng là một khái niệm pháp lý cơ bản và quan trọng thuộc chế định về hiệu lực của đạo luật hình sự, nhưng tại Điều 7 của Bộ luật Hình sự (năm 1999) nhà làm luật chưa ghi nhận khái niệm này.

 

c. Kỹ thuật lập pháp về hiệu lực hồi tố

Về vấn đề hiệu lực hồi tố của đạo luật hình sự tại các khoản 2, 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự quy định vẫn còn lan man, liệt kê dài một loạt tên gọi các chế định nhân đạo của luật hình sự, mà không gộp chúng lại thành các từ chung cho người phạm tội vừa bảo đảm được tính chính xác về mặt khoa học và chặt chẽ về mặt kỹ thuật lập pháp.

 

d. Kỹ thuật lập pháp về dẫn độ

Chế định nhỏ về dẫn độ người phạm tội vẫn chưa được điều chỉnh về mặt lập pháp, khi mà trong xu thế hội nhập với các nước trong khu vực và trên thê giới cần ghi nhận nó đế bảo đảm sự hợp tác hữu hiệu hơn nữa với các nước thành viên Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL) và Tổ chức Cảnh sát các nước Đông Nam Á (ASEANAPOL) trong việc đấu tranh chống tình trạng phạm tội quốc tế và tình trạng phạm tội có yếu tố nước ngoài.

 

e. Kỹ thuật lập pháp về nguyên tắc của pháp luật hình sự

Về chế định về các nguyên tắc của pháp luật hình sự vẫn chưa được điều chỉnh bằng các quy phạm riêng biệt trong Phần chung Bộ luật Hình sự của năm 1999 với tính chất là một chế định độc lập của pháp luật hình sự thuộc chê định lớn về đạo luật hình sự trong Phần chung.

 

4. Kỹ thuật lập pháp về chế định phân loại tội phạm và chế định lỗi của tội phạm

a. Kỹ thuật lập pháp về chế định phân loại tội phạm

Chế định nhỏ về phân loại tội phạm trong Phần chung về các khoản 2, 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự (năm 1999) còn một nhược điểm về kỹ thuật lập pháp khi vẫn chưa khắc phục được những hạn chế của Bộ luật Hình sự trước đó (năm 1985) về các quy phạm của chế định này vẫn được nhà làm luật ghi nhận tại cùng một Điều 8 “Khái niệm tội phạm”, mà lẽ ra có thể điều chỉnh chế định này bằng các quy phạm tại một điều luật riêng biệt khác bởi vì phân loại tội phạm là một chế định độc lập, tách biệt của pháp luật hình sự, chứ không thể hòa lẫn nó trong khái niệm tội phạm.

Cũng về một chế định nhỏ khác, đó là chế định nhiều (đa) tội phạm vẫn còn thiếu một loạt các định nghĩa pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng đối với thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nhằm góp phần giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án phân hóa và cá thể hóa tối đa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội.

Ví dụ: Như thế nào là “phạm tội nhiều lần”? hoặc “phạm nhiều tội”?. Trong khi “phạm tội nhiều lần” vẫn được Bộ luật Hình sự của năm 1999 quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung và “phạm nhiều tội” lại được nhà làm luật nhắc đến khi quy định về việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

 

c. Kỹ thuật lập pháp về lỗi của tội phạm

Chế định nhỏ về lỗi cũng vẫn còn tồn tại một số nhược điểm chưa khắc phục được của Bộ luật Hình sự (năm 1985) vì chưa phản ánh rõ hai nguyên tắc: trách nhiệm hình sự trên cơ sở lỗi và phân hóa trách nhiệm hình sự tối đa.

- Định nghĩa pháp lý của hai khái niệm: “lỗi” là gì và như thế nào là “người có lỗi trong tội phạm” vẫn chưa được nhà làm luật chính thức ghi nhận về mặt lập pháp.

- Tại Phần chung vẫn còn một vấn đề quan trọng chưa được điều chỉnh khi tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội “được thực hiện do vô ý” mà chưa có sự khẳng định dứt khoát và rõ ràng rằng: “chỉ trong các trường hợp có các điều tương ứng tại Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự quy định riêng”, thì những hành vi này mới bị coi là tội phạm, vì thực ra khác với những hành vi được thực hiện do cố ý, tại Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự (năm 1999) có thể nhận thấy rõ là chỉ có một số chứ không phải tất cả những hành vi được thực hiện do vô ý bị tội phạm hóa mà hình thức lỗi được chỉ ra trực tiếp trong tên gọi của tội phạm.

- Định nghĩa pháp lý về tội cố ý là hành vi nguy hiểm cho xã hội do luật hình sự quy định được thực hiện do “cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp” (rồi sau đó mới lần lượt đề cập định nghĩa pháp lý của khái niệm từng dạng cố ý này là trực tiếp và gián tiếp), cũng như định nghĩa pháp lý về tội vô ý là hành vi nguy hiểm cho xã hội do luật hình sự quy định được thực hiện do “quá tự tin (chủ quan) hoặc cẩu thả” (rồi sau đó mới lần lượt đề cập các định nghĩa pháp lý của từng dạng vô ý này) vẫn chưa được nhà làm luật ghi nhận chính thức về mặt lập pháp.

- Vấn đề trách nhiệm hình sự trong trường hợp lỗi phức tạp (hỗn hợp lỗi còn tồn tại).

- Việc bổ sung hình thức lỗi với tính chất là dấu hiệu bắt buộc của một số cấu thành tội phạm tăng nặng trong Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự vẫn chưa được tiến hành mà lẽ ra có thể bổ sung được vấn đề này để góp phần phân hóa và cá thể hóa tôì đa hơn nữa trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

 

5. Chế định giai đoạn thực hiện tội phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm và đồng phạm

a. Chế định giai đoạn thực hiện tội phạm

Về các giai đoạn thực hiện tội phạm (quy định tại các điều 17 và điều 18) tuy đã được tách ra điều chỉnh thành hai điều độc lập so với một điều trong Bộ luật Hình sự trước đó nhưng vẫn chưa đạt bởi vì còn thiếu định nghĩa pháp lý của hai khái niệm rất quan trọng, đó là “tội phạm hoàn thành”“tội phạm chưa hoàn thành” là như thế nào và không ghi nhận nguyên tắc chung để giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự trong hai trưòng hợp này.

 

b. Chế định về tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm

Chế định về tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm quy định tại Điều 19 của Bộ luật vẫn còn giữ nguyên các nhược điểm chưa khắc phục được của Bộ luật Hình sự (năm 1985) vì Điều 19 Bộ luật Hình sự (năm 1999) mới chỉ đề cập vấn đề trách nhiệm hình sự của người thực hành, mà chưa giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của ba loại người đồng phạm còn lại (người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức) khi họ tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm vì sử dụng thuật ngữ “việc phạm tội” (việc thực hiện tội phạm) trong tên gọi của Điều 19 và nội dung được quy định trong điều luật đó; mà lẽ ra ở đây nên sử dụng thuật ngữ “tội phạm” thì mới bảo đảm tính hợp lý về mặt thực tiễn, sự chính xác về mặt khoa học.

 

c. Chế định đồng phạm

Chế định đồng phạm được quy định tại Điều 20 của Bộ luật vẫn còn giữ nguyên các nhược điểm chưa khắc phục được của Bộ luật Hình sự trước đó, mà cụ thể là những nhược điểm sau:

- Bộ luật Hình sự (năm 1999) mới chỉ đề cập hành vi của người thực hành, mà chưa đề cập hành vi của ba loại người đồng phạm khác (người tổ chức, ngưòi xúi giục và người giúp sức) khi sử dụng thuật ngữ “cùng thực hiện một tội phạm” trong định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm và “thực hiện tội phạm” trong định nghĩa pháp lý về phạm tội có tổ chức, mà lẽ ra cần phải sử dụng các thuật ngữ thống nhất “cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm”, thì mối bảo đảm tính hợp lý về thực tiễn và sự chính xác về mặt khoa học.

- Định nghĩa pháp lý về người thực hành, người tổ chức và người xúi giục vẫn chưa đầy đủ, còn định nghĩa pháp lý về người giúp sức vẫn còn chung chung và trừu tượng.

- Chưa bảo đảm được nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa trách nhiệm hình sự tối đa vì chưa giải quyết ở mức độ lập pháp một loạt các vấn đề quan trọng như: chưa có định nghĩa pháp lý về các hình thức đồng phạm khác (ngoài hình thức phạm tội có tổ chức) và về tổ chức tội phạm; còn thiếu các quy phạm về sự thái quá của người thực hành và vấn đề trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác trong trường hợp này.

- Các giá trị pháp luật truyền thông của dân tộc ta vân chưa được kế thừa hoàn toàn khi vẫn chưa phi hình sự hóa hành vi che giấu tội phạm cho nhau của những người ruột thịt và thân thích gần thực hiện, trong khi đó điều này đã được làm đối với hành vi không tố giác tội phạm (như ưu điểm đã có trước đây trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (năm 1985) sửa đổi lần thứ X vào tháng 3/1998.