Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý của chế định tội phạm trong phần chung 

Các quy phạm của chế định quan trọng thứ hai của pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa lần thứ ba được ghi nhận tại Chương III “Tội phạm” trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vối 12 điều (các điều 8-19).

Việc phân tích nội hàm của chúng đã cho thấy các điểm cơ bản mới sau đây:

 

2. Cơ cấu chế định tội phạm trong phần chung 

Trước hết đó là sự thay đổi về cơ cấu vì lần đầu tiên trong Chương III “Tội phạm” của Bộ luật Hình sự năm 2015, nhà làm luật đã khắc phục được sự bất hợp lý trong Bộ luật Hình sự (năm 1985) và Bộ luật Hình sự (năm 1999), đưa các quy định về bốn trường hợp không phải là tội phạm như: sự kiện bất ngờ, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, phòng vệ chính đáng và, tình thế cấp thiết ra khỏi sự ghi nhận chung với các quy định về tội phạm (Chương III) để ghi nhận riêng biệt bốn trường hợp này trong một chương độc lập và hoàn toàn mới, Chương IV “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự” với 07 điều luật (các điều 20-26).

 

3. Khái niệm tội phạm trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 2015

Định nghĩa pháp lý của khái niệm tội phạm tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 lần đầu tiên đã nhận được sự sửa đổi, bổ sung của nhà làm luật với một số điểm mởi cơ bản dưới đây (cả về mặt nội dung và hình thức) như:

 

3.1 Về nội dung

Bên cạnh cá nhân (thể nhân) như quy định của pháp luật hình sự trước đây, nhà làm luật đã bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015 thêm một chủ thể mới của việc thực hiện tội phạm là pháp nhân thương mại phạm tội.

 

3.2 Về hình thức

Về hình thức, đó là việc bổ sung thêm phạm trù mối là “theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Như vậy, trên ba bình diện (khách quan, chủ quan và pháp lý), khái niệm tội phạm theo quan điểm mới chính thức của nhà làm luật Việt Nam bao gồm 05 đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản đã thừa nhận chung sau đây: a) Là hành vi hoặc bất tác vi (bằng hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội; b) Hành vi đó được quy định trong pháp luật hình sự hay còn gọi là do pháp luật hình sự quy định; c) Hành vi đó do người (thể nhân) có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc và pháp nhân thương mại thực hiện; d) Một cách cố ý hoặc vô ý (tức có lỗi) và; đ) Hành vi đó phải bị xử lý hình sự. cần lưu ý rằng, vì muốn đơn giản và ngắn gọn để ghi nhận trong pháp luật hình sự thực định nên ở đây nhà làm luật đã ngụ ý rằng, đặc điểm “đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự” của người phạm tội đã chứa đựng (bao hàm) cả trong đặc điểm “người có năng lực trách nhiệm hình sự” rồi (còn về mặt khoa học việc tách riêng ra thành đặc điểm thứ 06 để nghiên cứu dưới góc độ lý luận chỉ là để minh họa cho rõ hơn phạm trù “năng lực trách nhiệm hình sự”).

 

4. Phân loại tội phạm trong chế định tội phạm của phần chung 

Các quy phạm về phân loại tội phạm được ghi nhận tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 với tư cách là một chế định độc lập thuộc chế định về tội phạm mà việc phân tích nội hàm của nó đã cho thấy các đặc điểm cơ bản sau:

 

4.1 Đặc điểm thứ nhất về chế định nhỏ về phân loại tội phạm

Về chế định này đang phân tích đã được nhà làm luật tách ra khỏi Điều 8 “Khái niệm tội phạm” và để quy định thành Điều 9 “Phân loại tội phạm” tương ứng với bốn loại tội phạm tại bốn điểm a, b, c và d của khoản 1 (vì trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) chế định này tuy đã được quy định riêng biệt tại khoản 2 Điều 8 nhưng “phân loại tội phạm” vẫn bị ghi nhận cùng chung trong Điều 8).

 

4.2 Đặc điểm thứ hai

Bên cạnh việc giữ nguyên tiêu chí “mức cao nhất của khung hình phạt” đối với bốn loại tội phạm như trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) thì nhà làm luật đã thay đổi phạm trù “gây nguy hại... cho xã hội” ở vế sau khái niệm của mỗi loại trong bốn loại tội phạm theo cách phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự (năm 1999) bằng phạm trù “có tính chất và mức độ nguy hiểm” cho chính xác và phù hợp đúng với căn cứ đã nêu của “hành vi phạm tội” theo cách phân loại tội phạm do cá nhân thực hiện tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015; và Ghi nhận bổ sung thêm cụm từ “do Bộ luật này quy định” vì trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) không ghi nhận chủ thể quy định hình phạt là chủ thể nào.

 

4.3 Đặc điểm thứ ba

Sự phân loại tội phạm do cá nhân thực hiện tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng được nhà làm luật bổ sung một số thay đổi liên quan đến khung hình phạt đốì với ba loại tội quy định tại ba điểm a, b và c như sau:

- Đối với tội ít nghiêm trọng thì ngoài việc giữ nguyên mức cao nhất của khung hình phạt là “đến 03 năm” như Bộ luật Hình sự (năm 1999), còn bổ sung thêm hai loại hình phạt nữa là “phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ” (điểm a).

- Đối với tội nghiêm trọng thì ngoài việc giữ nguyên mức cao nhất của khung hình phạt là “đến 07 năm tù” như Bộ luật Hình sự (năm 1999), còn bổ sung thêm mức tối thiểu nữa là “từ trên 03 năm tù...” (điểm b).

- Đối với tội rất nghiêm trọng thì ngoài việc giữ nguyên mức cao nhất của khung hình phạt là “đến 15 năm tù” như Bộ luật Hình sự (năm 1999), còn bổ sung thêm mức tối thiểu nữa là “từ trên 07 năm tù...” (điểm c).

- Đối với tội đặc biệt nghiêm trọng thì ngoài việc giữ nguyên mức cao nhất của khung hình phạt là phạt “trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình” (như Bộ luật Hình sự năm 1999), còn bổ sung một số thuật ngữ là “từ... đến 20 năm tù” để cụ thể hóa rõ hơn mức tối thiểu nữa vào đằng trước và sau hình phạt tù đã nêu trước đây của Bộ luật Hình sự (năm 1999) thành “trên 15 nám đến 20 năm tù” (điểm d).

 

4.4 Đặc điểm thứ tư

Riêng quy phạm mới về phân loại tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện tại khoản 2 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng khẳng định quan điểm của nhà làm luật là dựa trên sự phân loại tội phạm do cá nhân (thể nhân) thực hiện nhưng chỉ “căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi” (theo quy định tại khoản 1 Điều 9) và dựa trên các quy phạm tương ứng đối với các tội phạm được ghi nhận tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự chỉ đối vói riêng 33 cấu thành tội phạm được quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Như vậy, việc phân tích quy phạm về phân loại tội phạm mối đốì với pháp nhân thương mại tại khoản 2 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy:

- Về mặt hình thức, quy phạm này là mới vì đã bổ sung thêm vào sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2017 vì so với Bộ luật Hình sự năm 2015 (khi chưa được sửa đổi, bổ sung) thì tại thời điểm mổi thông qua (vào cuôì năm 2015) chưa có quy phạm phân loại tội phạm này;

- Về mặt nội hàm, không có gì mới vì cũng là bốn loại tội phạm tương ứng vối bốn khoản (từ khoản 1 đến khoản 4).

 

5. Chuẩn bị phạm tội và không tố giác tội phạm 

5.1 Chuẩn bị phạm tội trong phần chung 

Các quy phạm về chuẩn bị phạm tội (Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015) mà việc phân tích nội hàm của chúng đã cho thấy một số đặc điểm cơ bản mới khi lần đầu tiên đã có sự bổ sung thêm như sau:

- Tại khoản 1 Điều 14 hành vi “thành lập, tham gia nhóm tội phạm” vào nhóm những hành vi chuẩn bị phạm tội được ghi nhận bằng các quy phạm trong Phần chung (trừ những trường hợp được liệt kê tại một số cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần riêng) Bộ luật Hình sự năm 2015. Mặc dù đây là một điểm mối của Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng trong quá trình phân tích cũng có quan điểm của một số nhà khoa học, luật gia hình sự học cho rằng: Hành vi thành lập và hành vi tham gia nhóm tội phạm là cần thiết cho sự hình thành nhóm có mục đích thực hiện tội phạm, nó là cơ sỗ cần thiết hoặc thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm (vì nếu không có nó thì không thể có nhóm được thành lập chỉ để nhằm mục đích thực hiện tội phạm) nên vì vậy, cần được coi là “hành vi tạo điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm”.

- Tại khoản 2 Điều 14 là danh mục cụ thể có 25 cấu thành tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà người chuẩn bị phạm tội (từ đủ 16 tuổi trở lên) phải chịu trách nhiệm hình sự - 14 cấu thành tội phạm trong Chương XIII, 02 cấu thành tội phạm trong Chương XIV, 02 cấu thành tội phạm trong Chương XVI, 01 cấu thành tội phạm trong Chương XVIII và 06 cấu thành tội phạm trong Chương XXL Như vậy, đây chính là điểm khác cơ bản so vối Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 1999 (khi quy định: Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện).

- Tại khoản 3 Điều 14 là quy phạm mới mang tính nhân đạo cho người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi khi hạn chế phạm vi phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội của họ chỉ với 02 cấu thành tội phạm tại Điều 123 (Tội giết người) hoặc Điều 168 (Tội cướp tài sản).

Đồng thời, có một điểm mới cần đặc biệt lưu ý là để bảo đảm sự nhất quán đối với quy phạm chung đã nêu trên tại Phần chung thì chế tài xử phạt cụ thể về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 25 điểu luật đã được liệt kê tại khoản 2 Điều 14 còn được nhà làm luật ghi nhận bổ sung thành một quy phạm riêng biệt trực tiếp ngay tại khoản cuối cùng của 25 điều cụ thể về 25 cấu thành tội phạm đặc biệt nghiêm trọng tương ứng đó tại Phần riêng.

 

5.2 Không tố giác tội phạm trong phần chung 

Các quy phạm về không tố giác tội phạm (Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015) bên cạnh việc giữ nguyên các quy phạm tương ứng như Điều 22 Bộ luật Hình sự trước đó thì việc phân tích nội hàm của chúng đã cho thấy, lần đầu tiên nhà làm luật đã ghi nhận bổ sung quy phạm mới về phi tội phạm hóa hành vi không tố giác tội phạm của người bào chữa nếu người này đáp ứng đúng điều kiện nêu tại khoản 3 Điều 19 của phần chung của Bộ luật hình sự năm 2015.

 

6. Đồng phạm và che giấu tội phạm trong chế định tội phạm của phần chung 

6.1 Đồng phạm trong phần chung 

Về đồng phạm (Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015). Việc phân tích nội hàm của khái niệm đồng phạm đã cho thấy điểm mối cơ bản là: lần đầu tiên trong lần pháp điển hóa thứ ba nhằm góp phần khẳng định rõ các nguyên tắc nhân đạo, cá thể hóa và phân hóa tối đa trách nhiệm hình sự của pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, nhà làm luật đã bổ sung thêm khoản 4 vào Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 với nội dung được đánh giá cao: “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành”.

 

6.2 Che giấu tội phạm trong phần chung 

Các quy phạm về che giấu tội phạm (Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 2015). Việc phân tích nội hàm của khái niệm che giấu tội phạm đã cho thấy, lần đầu tiên nhà làm luật Việt Nam đã phi tội phạm hóa tại khoản 2 Điều 18 “Che giấu tội phạm” hành vi che giấu tội phạm của những người thân thích (như: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội) đối với hầu như tất cả các loại tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (chỉ trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc một số tội đặc biệt nghiêm trọng khác do Điều 389 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định).

Như vậy, việc phi tội phạm hóa này vẫn còn điểm hạn chế là chưa được hoàn toàn đối với tất cả các loại tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vì nếu phi tội phạm hóa đối với việc che giấu tất cả các loại tội phạm mà những người thân thích như đã nêu trên che giấu cho nhau thì phù hợp với truyền thống của một đất nướ phương Đông hơn.