1. Khái quát chế định tội phạm của Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985)

Thông qua việc phân tích cho thấy, đây là lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hình sự thực định đã được pháp điển hóa của Việt Nam chế định lớn về tội phạm (mà trong Bộ luật Hình sự ấy bao gồm cả những trường hợp không phải là tội phạm) đã được điều chỉnh bằng các quy phạm riêng biệt trong cùng độc lập “Tội phạm” thuộc Phần chung với 12 điều luật (Điều 8 - Điều 19). Việc tìm hiểu kỹ nội hàm Chương III Bộ luật Hình sự của năm 1985 đã cho thấy sự tiếp tục phát triển các quy định về tội phạm trong Phần chung pháp luật hình sự thực định giai đoạn này. Bởi lẽ, các quy phạm của chế định lớn về tội phạm thuộc hệ thông pháp luật hình sự thực định trong Phần chung Bộ luật Hình sự của năm 1985 đã cho thấy nội hàm của nó được thể hiện thông qua những thuộc tính chung với các đặc điểm cơ bản.

Dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về các đặc điểm của chế định này. Bao gồm các nội dung: Định nghĩa pháp lý của khái niệm tội phạm (1); Phân loại tội phạm (2); và Hành vi không phải là tội phạm do tính tội phạm bị loại trừ (3). Đây là lần đầu tiên đã chính thức được ghi nhận bằng các quy phạm riêng biệt trong hệ thống Phần chung pháp luật hình sự thực định Việt Nam tương ứng với 03 khoản 1, 2 và 4 Điều 8 “Khái niệm tội phạm” của Bộ luật Hình sự (năm 1985), mà việc nghiên cứu nội hàm các quy phạm của Điều luật này đã cho thấy một số đặc điểm chúng ta phân tích sau đây.

a. Trước hết, quy phạm tại khoản 1 có bản chất pháp lý hoàn toàn phù hợp với đúng tên gọi của Điều 8 “Khái niệm tội phạm” vì bằng quy phạm đó lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Phần chung Bộ luật Hình sự của năm 1985 đã ghi nhận một cách rất khoa học và chính xác định nghĩa pháp lý của khái niệm tội phạm (cả về mặt nội dung và về mặt pháp lý) mà theo đó nhà làm luật đã khẳng định đầy đủ tất cả 05 đặc điểm (dấu hiệu) của tội phạm: “là hành vi nguy hiểm cho xã hội”; “được quy định trong Bộ luật Hình sự”; “do người có năng lực trách nhiệm hình sự” (ở đây nhà làm luật muốn ngụ ý là có năng lực trách nhiệm hình sự tức là đã bao hàm cả đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự); “thực hiện một cách cô' ý hoặc vô ý” (có lỗi); “xâm phạm” đến các nhóm khách thể loại (đã được liệt kê cụ thể tại khoản 1 Điều 8).

b. Song rất tiếc tại khoản 2 lại là một phạm trù độc lập và hoàn toàn khác vối khái niệm tội phạm vì đó chính là chê định phân loại tội phạm với việc phân chia tội phạm thành hai loại tương ứng tại hai đoạn của khoản 2 này - tội phạm nghiêm trọng nhưng được định nghĩa chung chung là: “tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình” (đoạn 1) và, tội phạm ít nghiêm trọng mà chỉ được định nghĩa rất đơn giản là “tội phạm khác” (đoạn 2);

c. Quy phạm cuối cùng (tại khoản 3), thì cũng như quy phạm (tại khoản 20 vì thực chất đây chỉ là một trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi (chứ không hề liên quan gì đến tội phạm) mà điều này có thể dễ dàng nhận thấy qua sự khẳng định của nhà làm luật về nội hàm của quy phạm này là: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải lồ tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”.

 

2. Quy phạm về lỗi của Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985)

Các quy phạm về lỗi trong pháp luật hình sự Việt Nam được ghi nhận riêng biệt tại hai điều luật thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự của năm 1985 tương ứng theo hai hình thức lỗi, đó là Điều 9 “Cố ý phạm tội” và, Điều 10 “Vô ý phạm tội” tương ứng với hai trường hợp phạm tội vối lỗi vô ý (do cẩu thả tại điểm a và do quá tự tin tại điểm b). Việc phân tích các quy phạm của chế định nhỏ về lỗi đã cho thấy nội hàm của chúng được thể hiện qua những thuộc tính chung vối các đặc điểm cơ bản dưới đây:

a. Thực chất nếu xét về bản chất pháp lý thì nội hàm các quy phạm của Điều 9 và Điều 10 Bộ luật Hình sự (năm 1985) chỉ là 04 trường hợp phạm tội (02 lỗi do cố ý và 02 lỗi do vô ý) chứ chưa thể coi đó là định nghĩa pháp lý của hai khái niệm tương ứng với hai hình thức lỗi ấy khi nhà làm luật sử dụng kỹ thuật lập pháp theo kiểu mô tả bản chất pháp lý của khái niệm bằng cách dùng mệnh đề (thuật ngữ) sau để khẳng định cho mệnh đề (thuật ngữ) trước như: “Cố ý phạm tội là phạm tội trong trường hợp...” hoặc “Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp...”).

b. Vì theo Điều 9 Bộ luật Hình sự (năm 1985) “Cố ý phạm tội”, trong trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và: “mong muốn” hoặc là “có ỳ thức dể mặc cho hậu quả xảy ra”.

c. Theo Điều 10 Bộ luật Hình sự (năm 1985) “Vô ý phạm tội”, trong hai trường hợp người phạm tội: “do cẩu thả” nên không thấy trước khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù “phải thấy trưổc và có thể thấy trước”; do quá tự tin nên mặc dù “thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội”, nhưng chủ quan “cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc” tuy có xảy ra thì vẫn “có thể ngăn ngừa được”.

 

3. Giai đoạn thực hiện tội phạm do cố ý của Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985)

Các giai đoạn thực hiện tội phạm do cố ý trong hệ thống Phần chung pháp luật hình sự thực định Việt Nam lần đầu tiên đã được điều chỉnh riêng biệt tại Điều 15 Bộ luật Hình sự (năm 1985).

Việc phân tích các quy phạm của chế định nhỏ này đã cho thấy nội hàm của nó được thể hiện qua những thuộc tính chung với các đặc điểm cơ bản dưới đây:

a. Bằng các quy phạm riêng đề cập định nghĩa pháp lý của hai khái niệm về hai giai đoạn đầu của hoạt động phạm tội sơ bộ do cố ý (chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt).

b. Mặt khác, nhà làm luật cũng ghi nhận việc quyết định hình phạt đôì với hoạt động phạm tội sơ bộ này tương ứng với 03 khoản, mà cụ thể là: Khoản 1 về định nghĩa pháp lý của khái niệm chuẩn bị phạm tội (đoạn 1) và khẳng định việc chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự (đoạn 2); Khoản 2 về định nghĩa pháp lý của khái niệm phạm tội chưa đạt (đoạn 2) “là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội”; và Khoản 3 về nội dung về cách thức liên quan đến việc quyết định hình phạt đốỉ với hoạt động phạm tội sơ bộ (bao gồm hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt).

 

4. Tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm do cố ý của Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985)

Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm do cố ý trong Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam lần đầu tiên đã được điều chỉnh riêng biệt bằng các quy phạm độc lập tại Điều 16 Bộ luật Hình sự (năm 1985) ở đây không có sự phân chia thành các khoản, mà việc phân tích các quy phạm của chế định nhỏ này đã cho thấy nội hàm của nó được thể hiện qua những thuộc tính chung vối các đặc điểm cơ bản dưới đây:

a. Nhà làm luật đã ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm này là “tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản” với sự khẳng định dứt khoát vấn đề trách nhiệm hình sự trong trường hợp này như sau: Người tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; Nếu tội phạm không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của mình thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định phạm; và Nếu hành vi thực tế do họ thực hiện đã có đầy đủ các yếu tố" của một cấu thành tội phạm khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng.

b. Cần lưu ý rằng, nhược điểm nhỏ về mặt kỹ thuật lập pháp (và đây cũng chính là nhược điểm của hai Bộ luật Hình sự tiếp theo) của quy phạm này là việc sử dụng thuật ngữ “việc phạm tội” (tức là việc thực hiện tội phạm) trong định nghĩa pháp lý của khái niệm tự nguyện chấm dứt tội phạm vì thuật ngữ này chưa bảo đảm được tính chính xác về mặt khoa học do vậy, ở đây rõ ràng là mới chỉ phản ánh được hành vi của một loại người (người thực hành tức là người trực tiếp thực hiện tội phạm). Chính vì thế, cần phải thay ba từ “việc phạm tội” bằng hai từ “tội phạm”, thì khi vụ án có đồng phạm mói có thể áp dụng được chế định nhân đạo này đôì với ba loại người đồng phạm khác (người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức) vì thực chất là ba loại người đồng phạm sau không trực tiếp thực hiện tội phạm (như người thực hành) mà họ chỉ cố ý “cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm” mà thôi).

Bởi lẽ, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy, trong trường hợp nếu ba loại người đồng phạm được hưỗng chế định nhân đạo này thì thực chất là do tự bản thân họ đã chấm dứt hoàn toàn tội phạm mà họ định thực hiện (chứ không phải chấm dứt “việc phạm tội”).

 

5. Đồng phạm của Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985)

Các quy phạm về đồng phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam lần đầu tiên đã được ghi nhận riêng biệt tại Điều 17 Bộ luật Hình sự (năm 1985), mà phân tích các quy phạm này đã cho thấy nội hàm của chúng được thể hiện qua những thuộc tính chung với các đặc điểm cơ bản dưới đây:

a. Mặc dù nhà làm luật đã ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm (khoản 1), có sự liệt kê các loại người đồng phạm và định nghĩa pháp lý riêng của các khái niệm từng loại người đồng phạm (khoản 2), có định nghĩa pháp lý của khái niệm “phạm tội có tổ chức” (khoản 3) - đây thực ra là một hình thức đồng phạm đặc biệt, có sự điều chỉnh về cách thức liên quan đến việc quyết định hình phạt đối với việc thực hiện tội phạm có đồng phạm (khoản 4).

b. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại sự hạn chế cơ bản về mặt kỹ thuật lập pháp của chế định đồng phạm tại Điều 17 Bộ luật Hình sự (năm 1985) và đây cũng chính là của hai Bộ luật Hình sự tiếp theo là: Định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm (khoản 1) thực chất là mới chỉ bao hàm hành vi của một loại người đồng phạm - người thực hành, mà chưa bao hàm hành vi của ba loại ngưòi đồng phạm khác, như người tổ chức, người xúi giục, và người giúp sức khi nhà làm luật sử dụng thuật ngữ “cùng thực hiện một tội phạm” trong định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm (khoản 1) và “thực hiện tội phạm” trong định nghĩa pháp lý về phạm tội có tổ chức (khoản 3); mà lẽ ra cần phải sử dụng các thuật ngữ thống nhất như là “cùng tham gia vào việcỉ’ thực hiện tội phạm.

c. Ngoài ra, định nghĩa pháp lý của ba khái niệm về người thực hành (1), người tổ chức (2) và người xúi giục (3) tại các đoạn 2, 3 và 4 khoản 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự (năm 1985) vẫn chưa đầy đủ, còn định nghĩa pháp lý của khái niệm về người giúp sức tại đoạn 5 khoản 2 Điều 17 vẫn còn hết sức chung chung và trừu tượng.

d. Chưa bảo đảm được nguyên tắc phân hóa và cá thế hóa trách nhiệm hình sự tôi đa vì chưa giải quyết ở mức độ lập pháp một loạt các vấn đề quan trọng liên quan đến đồng phạm như:

- Chưa có định nghĩa pháp lý về các hình thức đồng phạm khác (ngoài hình thức phạm tội có tổ chức) và về tổ chức tội phạm; - Còn thiếu các quy phạm về sự thái quá của người thực hành và vấn đề trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác trong trường hợp này.

e. Tuy nhiên, do mối pháp điển hóa lần đầu nên nhược điểm của chế định này là các giá trị pháp luật truyền thống của dân tộc ta vẫn chưa được kế thừa khi vẫn chưa phi hình sự hóa hành vi che giấu tội phạm (Điều 18) và không tố giác tội phạm (Điều 19) của những người ruột thịt và thân thích gần thực hiện (như ưu điểm đã có trước đây trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (năm 1985) sửa đổi lần thứ X tháng 3/1998).

>> Tham khảo thêm: Chế định tội phạm trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 2015