1. Nội dung của các văn bản tố tụng

Nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát, tăng tính minh bạch của hoạt động xét xử, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định cụ thể nội dung của bản án, quyết định và các văn bản tố tụng khác. Cụ thể bổ sung nội dung ghi lời trình bày và quyết định tại phiên tòa vào biên bản phiên tòa (Điều 258); bổ sung nội dung kết quả biểu quyết của Hội đồng xét xử về từng vấn đề đã thảo luận, ý kiến khác (nếu có) vào biên bản nghị án (Điều 259); bổ sung nội dung số ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử; số ngày, tháng, năm của bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố; tên Viện kiểm sát truy tố; hành vi của bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự và mức hình phạt, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; xử lý vật chứng; ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập; phân tích lý do mà Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra; phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử; quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án. Trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó vào bản án sơ thẩm; bổ sung nội dung nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị; điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự và của văn bản quy phạm pháp luật khác mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án; quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án do có kháng cáo, kháng nghị, về án phí sơ thẩm, phúc thẩm vào bản án phúc thẩm (Điều 260); quy định rõ quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát phải có các nội dung chính: ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị; tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị; kháng nghị đối với toàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm; lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát; họ tên, chức vụ của người ký quyết định kháng nghị (Điều 336).

2. Giao, gửi các văn bản tố tụng cho các chủ thể tố tụng

Để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 mở rộng diện chủ thể được nhận bản án, quyết định của Tòa án, theo đó chủ thể được nhận bản án sơ thẩm gồm cả bị hại, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo; chủ thể được nhận bản án hoặc quyết định phúc thẩm gồm cả Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo (Điều 262); chủ thể được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm gồm Viện kiểm sát cùng cấp, bị hại, đương sự; chủ thể được nhận quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án gồm cả Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp (Điều 286); chủ thể được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm gồm Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ hên quan đến kháng cáo, kháng nghị (Điều 346). Bổ sung loại quyết định của Tòa án phải được giao, gửi cho các chủ thể tố tụng có liên quan, đó là: quyết định phục hồi vụ án được giao cho bị can, bị cáo, bị hại hoặc người đại diện của họ và gửi cho người tham gia tố tụng khác; quyết định phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, hủy bỏ biện pháp cưỡng chế được giao cho bị can, bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ sở giam giữ nơi bị can, bị cáo đang bị tạm giam (Điều 286); quyết định kháng nghị phải gửi cho bị cáo và những người hên quan đến kháng nghị (Điều 338); quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, Tòa án đã xét xử sơ thẩm, người bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ hên quan đến kháng cáo, kháng nghị (Điều 348).

3. Biên bản phiên tòa xét xử vụ án hình sự

Thứ nhất, biên bản xét xử phiên tòa vụ án hình sự là biên bản trong hoạt động xét xử?  Chắc chắn rồi, đây là nhận định hoàn toàn có cơ sở vì tại điều 258 BLTTHS năm 2015 quy định rõ như thế; hơn nữa là theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành kèm theo mẫu biên bản phiên tòa hình sự sơ thẩm (Mẫu số 22-HS).

Thứ hai, biên bản xét xử phiên tòa vụ án hình sự có thật không? Tại khoản 1, khoản 3 Điều 258 quy định rõ biên bản phiên tòa phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa và mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa. Như vậy sự kiện pháp lý được ghi chép đầy đủ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm, mọi diễn biến, từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, được chủ tọa phiên tòa kiểm tra và cùng với thư ký Tòa án ký vào ngay sau khi kết thúc thì phải có thật.

Thứ ba, biên bản xét xử phiên tòa vụ án hình sự có bảo đảm tính khách quan, tính hợp pháp? Điều 47 BLTTHS năm 2015 quy định thư ký tòa án có nhiệm vụ ghi biên bản phiên tòa, do đó thư ký sẽ ghi chép các câu hỏi, câu trả lời, lời trình bày và quyết định tại phiên tòa vào biên bản theo quy định. Sau khi chủ tọa phiên tòa và thư ký Tòa án ký vào biên bản phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hoặc đại diện của những người đó được xem biên bản phiên tòa. Nếu có người yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa thì Thư ký Tòa án phải ghi sửa đổi, bổ sung đó vào biên bản phiên tòa. Như vậy, tính khách quan và tính hợp pháp của biên bản xét xử vụ án hình sự đã được bảo đảm.

Thứ tư đó là tính liên quan đến vụ án?  Biên bản phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một trong những văn bản pháp lý quan trọng thể hiện toàn bộ diễn biến phiên tòa theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Đây cũng là sự kiện rõ ràng mà mọi người tham gia phiên tòa đều biết và được Toà án thừa nhận nên đương nhiên sẽ liên quan đến vụ án.

4. Biên bản nghị án

Nghị án là một bước vô cùng quan trọng trong quá trình xét xử. nghị án là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở kết quả của việc hỏi tranh luận tại phiên tòa. Vì thế mà việc nghị án cũng phải lập thành biên bản.

Trong đó biên bản nghị án phải ghi lại đầy đủ các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải ghi rõ: giờ, ngày, tháng, năm ra biên bản; tên Tòa án xét xử; họ tên Thẩm phán, Hội thẩm; vụ án được đưa ra xét xử; kết quả biểu quyết của Hội đồng xét xử về từng vấn đề đã thảo luận quy định tại khoản 3 Điều 326 của Bộ luật này, ý kiến khác (nếu có).

Biên bản nghị án phải được tất cả thành viên Hội đồng xét xử ký tại phòng nghị án trước khi tuyên án, nếu có thành viên nào có ý kiến thiểu số thì có thể ghi ngay vào biên bàn nghị án hoặc bằng văn bản riêng.

Quy định này đảm bảo tính có căn cứ pháp lý của việc nghị án. Bởi biên bản nghị án là một văn bản có tính pháp lý, nếu nội dung các quyết định được ghi trong biên bản nghị án khác với nội dung quyết định được ghi trong bản án, thì bản án đó không có giá trị pháp luật mà giá trị pháp luật là nội dung các quyết định đã được ghi trong biên bàn nghị án. Trong trường hợp này bản án sơ thẩm sẽ bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc thủ tục giám đốc thẩm nhằm hủy bàn án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại.

5. Bản án hình sự sơ thẩm

Bản án là một văn bản tố tụng. Toà án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong bản án phải ghi rõ: ngày, giờ, tháng, năm và địa điểm phiên toà; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án; họ tên của Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thành phần xã hội, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của bị cáo; họ tên của người bào chữa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ.

Trong bản án phải trình bày việc phạm tội của bị cáo, phân tích những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có phạm tội hay không và nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật hình sự, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào. Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và phải giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Phần cuối cùng của bản án ghi những quyết định của Toà án và quyền kháng cáo đối với bản án.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)