- 1. Chủ thể pháp luật là gì?
- 2. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
- 3. Chủ thể của quyền và chủ thể của nghĩa vụ
- 4. Mục tiêu thông thường của những người nghiên cứu, giảng dạy và vận động cho việc thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền
- 5. Quan hệ giữa quyền và trách nhiệm/nghĩa vụ trong lĩnh vực quyền con người
1. Chủ thể pháp luật là gì?
Chủ thể pháp luật là cá nhân, tổ chức có khả năng có quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật. Chủ thể pháp luật khác với chủ thể quan hệ pháp luật. Để trở thành chủ thể pháp luật chỉ cần có năng lực pháp luật, nhưng để trở thành chủ thể của một quan hệ pháp luật cụ thể thì phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật, tức là phải có khả năng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
Do đó, chủ thể pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực pháp luật. Hay nói cách khác, năng lực pháp luật là điều kiện quan trọng của chủ thể pháp luật.
Theo điều 16 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân như sau:
“ 1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.
2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.
3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.”
Có nghĩa là, Nhà nước công nhận và trao cho cá nhân quyền cũng như nghĩa vụ dân sự.
Đây là tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền, có nghĩa vụ. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.
2. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bao gồm:
“ 1. Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.
2. Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản.
3. Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.”
Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
Điều 88 Bộ luật dân sự 2015 quy định về năng lực pháp luật của pháp nhân như sau:
“ 1. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký.
3. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.”
3. Chủ thể của quyền và chủ thể của nghĩa vụ
Luật nhân quyền quốc tế cho rằng, chủ thể cơ bản của quyền con người (rightbearers) là các cá nhân (individuals). Ngoài ra, trong một số trường hợp, chủ thể của quyền con người còn là các nhómngười (groups), ví dụ như các nhóm thiểu số về chủng tộc, dân tộc, tôn giáo, v.v.. và cả các dân tộc (peoples), chủ quyền quốc gia...
Luật nhân quyền quốc tế cũng cho rằng, chủ thể cơ bản có nghĩa vụ bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người (duty-bearers) là các nhà nước (states) mà cụ thể là các chính phủ, các cơ quan nhà nước khác cùng các viên chức hay những người làm việc cho các cơ quan nhà nước. Nhóm này được gọi chung là các chủ thể nhà nước (state actors)165 .
Các chủ thể nhà nước có nghĩa vụ và vai trò cốt yếu trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, song nhà nước nhà nước nắm quyền lực trong tay thường dễ dàng lạm dụng quyền lực nên trong thực tế nhà nước và nhiều công chức, viên chức nhà nước cũng là thủ phạm chính của những vi phạm về quyền con người.
Ngoài các chủ thể nhà nước còn có các chủ thể khác, bao gồm các tổ chức, thể chế quốc tế (international bodies), các đảng phái chính trị (political parties), các doanh nghiệp (companies), các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế (international, national non-governmental organizations), các nhóm chính thức hoặc không chính thức (formal, informal groups), các cộng đồng (communities), các gia đình (families), các bậc cha mẹ (parents) và các cá nhân (individuals), tùy theo vị thế của mình, cũngcó trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và góp phần thúc đẩy các quyền con người 166. Những chủ thể này được gọi chung là các chủ thể phi nhà nước (non-state actors). Tương tự như các chủ thể nhà nước, các chủ thể phi nhà nước có vai trò quan trọng bảo vệ quyền con người nhưng đồng thời cũng là thủ phạm của nhiều vi phạm về quyền con người, thâm chí vi phạm nghiêm trọng. Không ít chủ thể phi nhà nước đã từng và đang bị phê phán gay gắt về những vi phạm nhân quyền, ví dụ như các công ty/tập đoàn đa quốc gia (multinational companies/corperations) bóc lột sức lao động (kể cả lao động phụ nữ và trẻ em) và tàn phá môi trường ở những nước nghèo…
Các tổ chức, nhóm, cá nhân có chuyên môn sâu trong lĩnh vực quyền con người cũng là chủ thể bảo vệ quyền và đang hoạt động dưới các hình thức như giảng dạy, nghiên cứu, phổ biến, vận động chính sách, hoạt động trợ giúp…Đây là những chủ thể đang đưa kiến thức, thông tin và sự hiểu biết nhân quyền đến các chính phủ và mọi người dân trong xã hội, hỗ trợ các chính phủ và người dân trong việc hoàn thiện và thực thi chính sách, pháp luật quốc gia về nhân quyền phù hợp với các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về nhân quyền. Vì những nỗ lực đó, họ được gọi chung là ‘những người bảo vệ nhân quyền” (human rights defenders).
4. Mục tiêu thông thường của những người nghiên cứu, giảng dạy và vận động cho việc thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền
Mục tiêu thông thường của đông đảo những người nghiên cứu, giảng dạy và vận động cho việc thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền là xây dựng một xã hội tốt đẹp trong đó có xây dựng nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người của toàn thể nhân dân, một xã hội công dân không chỉ có ý thức tôn trọng quyền, lợi ích của cá nhân mình mà còn tôn trọng các quyền,lợi ích chung của cộng đồng, quốc gia, dân tộc và nhân loại. Hoạt động của họ, vì vậy chính là góp phần thực hiện mục tiêu nhân quyền của hầu hết các nhà nước thuộc các thể chế chính trị khác nhau. Tuy nhiên, những người nghiên cứu, giảng dạy và vận động cho việc thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền ở khắp nơi trên thế giới thường phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, nguy hiểm. Họ thường bị quy kết và phải gặp rất nhiều trở ngại trong công việc. Ở một số nước, thậm chí họ còn bị bắt giữ, đánh đập, vu khống, hạ nhục, bị kết án tù, giết hại hoặc thủ tiêu…
Tuyên ngôn về quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, nhóm và tổ chức xã hội trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản được thừa nhận rộng rãi, được gọi tắt là “Tuyên ngôn về những người bảo vệ nhân quyền” ( UNDeclaration onhuman rights defenders). Văn kiện này nhấn mạnh vai trò quan trọng, tính chính đáng và sự cần thiết bảo vệ tốt hơn những người nghiên cứu, giảng dạy và vận động cho việc thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền. Tuyên ngôn khẳng định, các quốc gia có trách nhiệm và nghĩa vụ hàng đầu, nhưng mọi cá nhân, nhóm và tổ chức xã hội đều có quyền và có nghĩa vụ bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người (Điều 1 và 2)
5. Quan hệ giữa quyền và trách nhiệm/nghĩa vụ trong lĩnh vực quyền con người
Để hiểu rõ mối quan hệ giữa quyền và trách nhiệm/nghĩa vụ của cá nhân trong vấn đề quyền con người nói chung và trong luật nhân quyền quốc tế nói riêng, trước hết cần rà soát các quy định về trách nhiệm/nghĩa vụ của cá nhân trong các văn kiện chủ chốt của luật nhân quyền quốc tế. Tại Điều 29 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, khoản 1 Điều này quy định: “Tất cả mọi người đều có những nghĩa vụ với cộng đồng mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển một cách tự do và đầy đủ”. Theo Khoản 2 Điều này thì mỗi người, trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân đều phải chịu những hạn chế do luật định nhằm bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng các quyền và tự do của người khác...
Quy định về trách nhiệm của cá nhân cũng được nêu trong “Lời nói đầu” của cả hai công ước ICCPR và ICESCR, theo đó, trong việc thực hiện, hưởng thụ các quyền con người, các cá nhân có những trách nhiệm với cộng đồng của họ và với các cá nhân khác. Trách nhiệm và nghĩa vụ của cá nhân trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền của cá nhân khác và của cộng đồng cũng bao hàm trong những quy định về giới hạn của một số quyền cụ thể của hai công ước này, đã đề cập ở nội dung trên.
Như vậy, xét về mặt hình thức, mặc dù các văn kiện quốc tế về quyền con người chủ yếu đề cập các quyền, song cần hiểu rằng luật nhân quyền quốc tế không tuyệt đối hóa các quyền mà lãng quên vấn đề trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân. Với những quy định đã trích dẫn ở trên, rõ ràng luật nhân quyền quốc tế hàm ý rằng trong lĩnh vực quyền con người, quyền và trách nhiệm/nghĩa vụ của cá nhân luôn quan hệ chặt chẽ với nhau, không có yếu tố nào bị xem nhẹ. Nhận thức đúng đắn và rõ ràng về sự cân bằng giữa các quyền và trách nhiệm/nghĩa vụ của cá nhân, và rộng ra là các quyền và trách nhiệm/nghĩa vụ của các chủ thể quyền khác, có tầm quan trọng đặc biệt cả về lý luận và thực tiễn. Nó giúp các cơ quan, tổ chức và cá nhân hoạt động trên lĩnh vực quyền con người (những người bảo vệ nhân quyền) có cách tiếp cận phù hợp, tránh xu hướng tuyệt đối hóa các quyền mà coi nhẹ vấn đề trách nhiệm/nghĩa vụ của các chủ thể quyền - điều mà trên thực tế có thể thúc đẩy tâm lý và những hành động phiến diện, thậm chí cực đoan trong các vấn đề liên quan đến quyền con người.
Tuy nhiên theo nguyên lý về Nhà nước pháp quyền và theo Luật quốc tế về quyền con người:
- Trong quan hệ xã hội và cá nhân thì quyền con người trước hết thuộc về cá nhân con người, nghĩa vụ/trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền con người trước hết thuộc về nhà nước
- Trong quan hệ Nhà nước và công dân thì quyền công dân luôn đi đôi với nghĩa vụ công dân; để có nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân thì nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, còn công dân được làm tất cả những gì pháp luật không ngăn cấm.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập