1. Bổ sung đối tượng không được thành lập doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp 2020 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 17/6/2020 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021. Theo đó, quy định các tổ chức, cá nhân sau đây không được phép thành lập, quản lý doanh nghiệp:
- Cơ quan sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân
- Những đối tượng quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức gồm cán bộ, công chức, viên chức
- Các cá nhân thuộc cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng
- Người quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định (trường hợp người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác vẫn có quyền thành lập doanh nghiệp);
- Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân; Người chưa thành niên
- Người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù.
- Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm hoạt động, cấm kinh doanh trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017
Như vậy, so với Luật Doanh nghiệp 2014 (đã hết hiệu lực) thì Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung thêm nhiều đối tượng không được phép thành lập, quản lý doanh nghiệp, gồm:
- Công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam (trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp);
- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
- Người đang bị tạm giam;
- Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
2. Tại sao pháp luật Việt Nam quy định các đối tượng trên không được quyền thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam?
Luật Doanh nghiệp 2020 và các Luật Doanh nghiệp trước đã hết hiệu lực cũng đều có các điều khoản quy định về các đối tượng không được quyền thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam. Xét trong Luật Doanh nghiệp 2020, nguyên nhân dẫn đến có những điều khoản đó là vì những lý do sau:
- Đối với đối tượng là cơ quan sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân
Cơ quan Nhà nước mang quyền lực nhà nước và các hoạt động được nhờ có nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp. Với vị trí và các lợi thế đó, việc không cho phép các cơ quan nhà nước thành lập doanh nghiệp riêng nhằm để ngăn chặn tình trạng tiêu cực, phòng tránh về ván đề tham ô tiền ngân sách, tiền thuế của dân.
Nếu những cơ quan, đơn vị này dùng chính nguồn ngân sách đó để đi thành lập doanh nghiệp mới với mục đích để thu lợi cho cơ quan đơn vị mình thì nguồn vốn nhà nước sử dụng sẽ không được hiệu quả và sẽ gây thất thoát, lạm dụng ngân sách.
- Những đối tượng quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức gồm cán bộ, công chức, viên chức
Công chức là những người làm việc ở trong cơ quan Nhà nước. Trong nhiều trường hợp, các công chức giữ vai trò quản lý Nhà nước trong những ngành, nghề, lĩnh vực nhất định. Với vị trí đó, thì việc không cho phép công chức thành lập lên doanh nghiệp được cho là biện pháp ngăn chặn tình trạng tham nhũng có thể xảy ra.
- Các cá nhân thuộc cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng.
Pháp luật quy định các sĩ quan; hạ sĩ quan; quân nhân chuyên nghiệp; là công nhân; viên chức quốc phòng trong những cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; thuộc Công an nhân dân Việt Nam không được quyền thành lập lên doanh nghiệp nhằm để tránh việc các chủ thể này có thể sẽ biến việc kinh doanh thành công cụ để lạm quyền và tham nhũng. Bởi vì, các đối tượng trên là người có chức vụ, có quyền hạn trong cơ quan Nhà nước và là những người nắm giữ những chức trách, nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước.
Nếu không có những quy định ràng buộc này, rất có thể trong các hoạt động kinh doanh họ sẽ đan xen với việc thực hiện nhiệm vụ của mình trong các cơ quan nhà nước, xao nhãng đi nhiệm vụ được giao, tư lợi cá nhân, thậm chí có thể vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
- Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân; Người chưa thành niên
Đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp là cá nhân thì cá nhân đó sẽ phải có đủ năng lực hành vi dân sự để chịu trách nhiệm đối với chính doanh nghiệp do mình thành lập hoặc góp vốn thành lập; còn nếu như người thành lập doanh nghiệp là tổ chức thì tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân vì tổ chức chỉ có thể đầu tư vốn thành lập doanh nghiệp khi mà có tài sản độc lập và có khả năng chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản đó. Chính vì thế những đối tượng là người chưa thành niên; người mà bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của mình; tổ chức không có tư cách pháp nhân hoàn toàn không có đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp.
3. Ý nghĩa của việc thành lập doanh nghiệp
- Đối với cá nhân, tổ chức: Được Nhà nước công nhận về mặt pháp luật, được pháp luật bảo vệ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Có quyền kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm
- Đối với nền kinh tế: Khi 1 doanh nghiệp được thành lập thì cá nhân, tổ chức đó đã góp phần vào việc phát triển chung của nền kinh tế của đất nước
- Đối với xã hội: Được toàn xã hội biết đến thông qua việc quảng bá thương hiệu, góp phần thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp
Chính vì vậy, việc thành lập doanh nghiệp, công ty có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế của đất nước trong quá trình hội nhập và phát triển.
Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Đối tượng không có quyền thành lập doanh nghiệp, cấm mở công ty? của Luật Minh Khuê.
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Bổ sung đối tượng không được thành lập doanh nghiệp mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!