Những năm gần đây cho thấy, việc phát triển các "thẻ tín dụng" có vai trò chủ yếu là làm cho các việc trả tiền được dễ dạng. Nhưng đó không phải là các thương phiếu.
Những người có các thẻ đó có thể mua hoặc nhận dịch vụ ở các nhà buôn thành viên, không cần trả tiền ngay, mà chỉ cần ký.
Thương nhân giữ một bản của phiếu nợ mà khách hàng đã ký đến cơ quan phát hành thẻ, và cơ quan này sau khi nhận, gửi ngày số tiền đến thương nhân.
Cơ quan phát thẻ sẽ đòi người cầm thẻ phải trả số tiền mà cơ quan đó đã ứng trước.
Thường thường, cơ quan phát thẻ đến cuối tháng tập hợp các hóa đơn thuộc một người và gửi đến người đó một bản sao kê, rồi ghi nợ vào tài khoản của người đó để người nà hoặc thanh toán tất cả khoản nợ hoặc chi trả ngay một phần nợ phần còn lại sẽ trả dần vào các tháng sau.
Việc phát hành các thẻ tín dụng làm nảy sinh các quan hệ giữa cơ quan phát hành, khách hàng và nhà buôn cung cấp hàng hóa hay dịch vụ.

1. Hiểu thể nào về  thẻ tín dụng

1.1. Tín dụng là gì, đặc điểm, tính chất

Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Xuất hiện sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa: giàu, nghèo, người nắm quyền lực, người không có gì....Khi người nghèo gặp phải những khó khăn không thể tránh thì buộc họ phải đi vay, mà những người giàu thì câu kết với nhau để ấn định lãi suất cao, chính vì thế, tín dụng nặng lãi ra đời. Trong giai đoạn tín dụng nặng lãi, tín dụng có lãi suất cao nhất là 40-50%, do việc sử dụng tín dụng nặng lãi không phục vụ cho việc sản xuất mà chỉ phục vụ cho mục đích tín dụng nên nền kinh tế bị kìm hãm động lực phát triển. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ.

Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,...

Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả.

- Đặc điểm của tín dụng
+ Phân phối của tín dụng mang tính hoàn trả;
+ Hoạt động của tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cả.
- Vai trò của tín dụng
+ Tín dụng là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế;
+Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn;
+ Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội;
+ Tín dụng góp phần thực hiện chính sách xã hội.

1.2. Vai trò của tín dụng

Vai trò của tín dụng
Tiếp nối phần khái niệm tín dụng là gì, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về vai trò của nó đối với các cá nhân, ngân hàng cũng như đối với nền kinh tế quốc gia.
- Với các cá nhân
Như chúng ta đã biết, một người muốn mua nhà hay xe hơi… thì phải có một khoản tiền lớn! Thế nhưng, những bạn trẻ mới đi làm hoặc những người lao động có thu nhập thấp lại không có đủ vốn tích lũy để mua sắm những thứ ấy. Họ cũng không thể chờ đến khi già, có đủ tiền tích lũy rồi mới bắt đầu mua nhà, mua ô tô.
 Những khó khăn ấy của họ hoàn toàn có thể giải quyết được nhờ vào tín dụng. Họ có thể mua trả góp đối với nhà, xe hay những tài sản giá trị khác rồi tích cóp tiền để trả dần cho ngân hàng cho đến khi hết nợ.
- Với bản thân các ngân hàng/tổ chức tài chính
Cho vay là một trong những mục đích tồn tại chính của các ngân hàng/tổ chức tài chính. Việc cho vay và tính lãi suất sẽ đem về nguồn lợi nhuận lớn cho các tổ chức tín dụng này. Nhờ đó mà họ có thêm vốn để mở rộng quy mô, nâng cấp về mặt công nghệ… Nói chung, phát triển tốt mảng tín dụng sẽ mang về cho các ngân hàng những lợi ích không thể chối cãi.
- Với nền kinh tế chung
Trong thời đại hội nhập như hiện nay, việc vay nợ từ các ngân hàng, tổ chức tài chính quốc tế đã trở thành một nhu cầu bức thiết đối với tất cả các quốc gia đang phát triển trên thế giới và Việt Nam chúng ta cũng không phải là ngoại lệ. Việc vay vốn này sẽ giúp các nước đang phát triển tăng trưởng kinh tế, đời sống của người dân cũng nhờ thế mà được nâng cao và cải thiện hơn.
Việc cho vay tiêu dùng trong nước cũng cần được đẩy mạnh để giúp giảm bớt tình trạng giảm phát và xử lý phần nào những khó khăn mà khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra cho lĩnh vực xuất khẩu của nước ta.

1.3. Phát hành thẻ tín dụng

Việc phát hành các thẻ tín dụng làm nảy sinh các quan hệ giữa cơ quan phát hành, khách hàng và nhà buôn cung cấp hàng hóa hay dịch vụ.

- Giữa cơ quan phát hành và người có thẻ tín dụng
+ Hợp đồng thường được ký cho một năm nhưng có thể gia hạn.
+ Người có thẻ mỗi một năm đóng trước một số tiền, nhưng phần lớn thẻ được cấp không mất tiền.
+ Thẻ có tính cách chặt chẽ là của cá nhân, mang tên người có thẻ với chữ ký của người đó.
+ Người có thẻ đã dùng thẻ để mua hàng cam kết sẽ trả tiền cơ quan phát hành trong một thời hạn nhất định.
+ Trường hợp đánh mất hay bị mất cắp, người có thẻ phải báo ngay cho cơ quan phát hành biết.
- Giữa cơ quan phát hành và người cung cấp 
Cơ quan phát hành thẻ tín dụng cam kết sẽ thanh toán tiền các hóa đơn của thương nhân gửi đến sau khi thương nhân này đã giao hàng cho người xuất trình thẻ tín dụng.
Về phần mình, thương nhân được mở tài khoản cam kết sẽ nhận  người có thẻ tín dụng và bán hàng cho họ theo những điều kiện với giá cả như đối với những khách hàng bình thường.
- Giữa khách hàng và thương nhân cung cấp hàng
Khách hàng ký kết với thương nhân một hợp đồng mua bán bình thường với tất cả các hệ qủa của hợp đồng này, chỉ trừ nghĩa vụ trả tiền, vì cơ quan phát hành thẻ tín dụng thanh toán tiền trực tiếp các hóa đơn.
Nhưng tất cả các nghĩa vụ khác của hợp đồng mua bán vẫn còn. Nếu khách hàng thấy hàng mà thương nhân giao cho không đúng với đơn đặt hàng, hoặc hàng có các khuyết tật ẩn dấu, thì khách hàng có thể kiện người cung cấp hàng để đòi bồi thường hoặc đòi số tiền đã trả.
Lệnh trả tiền là nhất định không thể bãi bỏ được; người ta chỉ có thể kháng nghị không trả tiền trong trường hợp thẻ tín dụng bị đánh mất hay lấy cắp, hoặc trong trường hợp phục hồi hay thanh lý bằng con đường tư pháp của người được hưởng quyền (điều 22 ngày 11-7-1985 có một số quy định về kinh tế tại chính). 
 

2. Chuyển nhượng, chuyển giao các khoản nợ

1. Khái niệm về các khoản cho vay.
Các khoản cho vay bằng tiền mặt và đến hạn đòi có thể chuyển nhượng hay thế chấp. Cũng có thể chuyển nhượng hay thế chấp các khoản cho vay phát sinh một văn tự đã có hay sẽ có nhưng số tiền vầ khả năng đòi chưa được ấn định.
2. Bản kê chị tiết các khoản.
Bản đó cần có các ghi chú sau đây:
a) Tên gọi tùy trường hợp: "văn tự chuyển nhượng các khoản cho vay nghiệp vụ "hoặc" văn tự thế chấp các khoản cho vay nghiệp vụ";
b) Ghi văn tự này theo luật ngày 2-1-1991;
c) Tên hoặc tên công ty của cơ sở tín dụng hưởng quyền ;
d) Chỉ rõ hoặc cá thể hóa các khoản cho vay đã chuyển nhượng hay thế chấp và các nhân tố có thể căn cứ để thực hiện việc Chỉ rõ và, cá thể hóa như tên con nợ, địa điểm trả nợ, số tiền nợ hoặc ước lượng và nếu cần cả kỳ hạn trả.
Nếu đã dừng một phương pháp tin học, thì bản kê chi tiết, ngoài các điểm nêu ở các đoạn a,b,c, chỉ cần ghi phương tiện chuyển các điểm ghi, số lượng và tổng số tiền.
Chứng thư thiếu một điểm nói trên thì không có giá trị một yăn tự chuyển nhượng hay thế chấp các khoản cho vay nghiệp vụ theo như luật pháp đã định.
Bản kê khai chi tiết do người chuyển nhượng ký (vả có thể chỉ rõ theo lệnh), nhưng ngày tháng do người được chuyển nhượng viết.
3. Hệ qủa.
Việc chuyển nhượng hoặc thế chấp có hiệu lực kể từ ngày ghi trên bản kê khai chi tiết. Từ ngày đó, khách hàng của cơ sở không thể sửa đổi phạm vi các quyền gắn với các khoản cho vay ghi trong bản kê khai, nếu không được sự đồng ý của cơ sở
Việc giao bản kê khai đương nhiên kéo theo việc chuyển các đảm bảo mỗi khoản cho vay, trừ phi có thỏa ước ngược lại.
Cơ sở tín dụng có thể bất cứ lúc nào, cấm người nợ một khoản nợ đã chuyển nhượng hay thế chấp không được trả tiền người ký bản kê khai; bắt đầu từ ngày thông báo việc cấm đó, người nợ chỉ được trả tiền ở cơ sở tín dụng.
Những người mắc nợ cũng có thể cam kết sẽ trả tiền thẳng cho người được quyền; cam kết đó phải được ghi lại bằng giấy tờ gọi là : "văn tự chấp nhận việc chuyển nhượng hoặc việc thế chấp một khoản cho vay nghiệp vụ"
4. Bản kê khai chi tiêt, công cụ tín dụng; việc huy động các khoản tín dụng.
Việc huy động các khoản tín dụng là một việc cần thiết đối với các cơ sở ngân hàng; theo điều 8 của luật, cơ sở tín dụng được nhận chuyển nhượng hoặc được thế chấp các khoản nợ nghiệp vụ, có thể phát hành các phiếu bất cứ lúc nào để huy động tất cả hay một phần, các khoản nợ. Giấy này có thể chuyển đến cơ quan tài trợ; bản kê khai chi tiết có thể ấn định theo lệnh và chỉ có thể chuyển đến một cơ sở tín dụng khác.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật  trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!