Luật sư tư vấn:

1. Quy định chung về bù trừ nghĩa vụ

Khi các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng loại, đối với nhau cùng đến thời hạn thực hiện thì họ không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau. Trong trường hợp giá trị của nghĩa vụ phải thực hiện khác nhau: có sự chênh lệch về tài sản hoặc công việc không tương đương với nhau, thì bên có giá trị của nghĩa vụ nhỏ hơn phải thanh toán phần chênh lệch cho bên có giá trị nghĩa vụ lớn hơn.

Những vật được định giá thành một số tiền cụ thể cũng có thể bù trừ với nghĩa vụ trả tiền.

Việc bù trừ nghĩa vụ không được áp dụng trong các trường hợp: một trong các nghĩa vụ có tranh chấp; các nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ; các nghĩa vụ cấp dưỡng.

 

2. Khái niệm nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ, theo nghĩa chung nhất là việc mà theo quy định của pháp luật hay vì đạo đức mà bắt buộc phải làm hoặc không được làm đối với xã hội, đối với người khác. Theo cách hiểu này thì nghĩa vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên kia.

Việc một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một số hành vi nhất định có thể không được đặt dưới sự bảo đảm của nhà nước bằng pháp luật, pháp luật không buộc người đó phải thực hiện, họ thực hiện công việc đó hoàn toàn theo lương tâm và vì uy tín của mình. Ở phương diện này, nghĩa vụ được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức và thuộc về nghĩa vụ đạo đức. Chẳng hạn, giúp người già qua đường, giúp đỡ người tàn tật, nhường chỗ cho người già, phụ nữ trên xe buýt... là những công việc phải làm vì đạo đức.

Những công việc phải làm hoặc không được phép làm theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ pháp luật nói chung. Trong đó, các công việc phải làm hoặc không được phép làm theo quy định của pháp luật dân sự là nghĩa vụ dân sự.

Nghĩa vụ có thể được hiểu là một bộ phận không tách rời trong nội dung của một quan hệ pháp luật dân sự. Bao gồm những hành vi mà một bên chủ thể phải thực hiện vì lợi ích của chủ thể bên kia như chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện một công việc đã được các bên tham gia quan hệ đó hoặc pháp luật xác định v.v. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ trước quyền yêu cầu của phía bên kia.

Mặt khác, nghĩa vụ còn được hiểu là một quan hệ pháp luật, trong đó quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể phát sinh từ quan hệ đó phải được thực hiện dưới sự đảm bảo của pháp luật.

Nghĩa vụ được định nghĩa tại Điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

"Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thế khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).

 

3. Đặc điểm của nghĩa vụ dân sự

Nếu nhìn nhận nghĩa vụ ở trạng thái là một quan hệ pháp luật dân sự thì so với các quan hệ pháp luật dân sự khác, quan hệ nghĩa vụ có một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, nghĩa vụ là sự ràng buộc pháp lý giữa ít nhất là hai người đứng về hai phía chủ thể khác nhau.

Dù được hình thành theo thoả thuận hay theo luật định thì nghĩa vụ luôn là sự ràng buộc giữa các bên về việc phải làm hay không được làm một việc nhất định. Bên phải làm một công việc nếu không làm sẽ phải gánh chịu chế tài của luật. Tuỳ từng trường hợp, mỗi bên trong nghĩa vụ có thể có nhiều người hoặc nhiều chủ thể khác tham gia nhưng cũng có thể mỗi một bên chỉ có một người tham gia.

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thể đối lập nhau một cách tương ứng và chỉ có hiệu lực trong phạm vi giữa các chủ thể đã được xác định.

Nghĩa vụ và quyền luôn đi đôi với nhau, nói đến quyền là nói đến nghĩa vụ. Tuy nhiên, nói đến quyền và nghĩa vụ trong quan hệ nghía vụ là nói đến sự đối lập, tính tương ứng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Nói một cách cụ thể hơn, quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Bên này có bao nhiêu quyền với phạm vi bao nhiêu thì bên kia sẽ có bấy nhiêu nghĩa vụ với phạm vi tương ứng. Mặt khác, trong quan hệ nghĩa vụ, cả chủ thể mang quyền, cả chủ thể mang nghĩa vụ luôn luôn được xác định một cách cụ thể nên quyền của bên này chỉ là nghĩa vụ của bên kia. Nói cách khác, mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ này không liên quan đến người khác ngoài các chủ thể đã được xác định cụ thể. Trong một số trường hợp, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ này có thể liên quan đến người thứ ba nhưng người thứ ba đó phải là người đã được xác định cụ thể trước. Xem thêm: Nghĩa vụ dân sự là gì?

Ví dụ, trong quan hệ cho vay, bên có quyền đòi nợ là người đã cho vay, bên có nghĩa vụ trả nợ là người vay nhưng cũng có thể người phải trả khoản nợ đó lại là người thứ ba (là người bảo lãnh đã được các bên xác định trước).

Chính từ đặc điểm này mà quan hệ pháp luật về nghĩa vụ được coi là loại quan hệ pháp luật tương đối. Đồng thời cũng qua đặc điểm này, chúng ta thấy rằng quan hệ pháp luật về nghĩa vụ hoàn toàn khác với quan hệ pháp luật về sở hữu. Trong quyền sở hữu, chỉ có chủ thể mang quyền là được xác định cụ thể nên tất cả các chủ thể khác đều phải có nghĩa vụ tôn trọng các quyền dân sự của chủ thể mang quyền đó. Chủ sở hữu tự thực hiện các quyền đối với tài sản để đáp ứng các nhu cầu của mình, vì vậy quyền đân sự trong quan hệ pháp luật về sở hữu là quyền tuyệt đối.

Thứ ba, quan hệ nghĩa vụ là quan hệ trái quyền nên quyền của các bên chủ thể là quyền đổi nhân.

Neu trong quan hệ sở hữu, quyền của chủ thể mang quyền được thực hiện bằng hành vi của chính họ thì trong quan hệ nghĩa vụ dân sự quyền của bên này lại được thực hiện thông qua hành vi của chủ thể phía bên kia. Nói cách khác, quyền của bên này chỉ được đáp ứng khi bên kia đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ. Mặt khác, nếu việc thực hiện quyền trong quan hệ sở hữu là việc tác động trực tiếp đến vật thì trong nghĩa vụ dân sự người mang quyền dân sự không được tác động trực tiếp đến tài sản của người mang nghĩa vụ. Khi người mang nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đó, người mang quyền chỉ có thể sử dụng các phương thức mà pháp luật đã quy định để tác động và yêu cầu người đó phải thực hiện nghĩa vụ cho mình. Nói cách khác, trong nghĩa vụ, quyền của người này là đối với người có nghĩa vụ bên kia chứ không đối với tài sản của họ.

 

4. Các yếu tố của quan hệ nghĩa vụ

4.1 Chủ thể của nghĩa vụ

Chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung là những người tham gia quan hệ pháp luật đó. Chủ thể của quan hệ nghĩa vụ là những người tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các chủ thể này có những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ nghĩa vụ mà họ tham gia.

Các chủ thể này khi tham gia một quan hệ nghĩa vụ sẽ thiết lập mối liên hệ pháp lý về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên. Trong đó, một bên được gọi là người có quyền, một bên được gọi là người có nghĩa vụ.

- Bên có quyền: Là một bên trong quan hệ nghĩa vụ được pháp luật bảo đảm quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của mình.

- Bên có nghĩa vụ: Là một bên trong quan hệ nghĩa vụ buộc phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên có quyền.

Tuỳ theo tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể mà có những quan hệ nghĩa vụ trong đó một bên chỉ có quyền yêu cầu nhưng không phải gánh vác nghĩa vụ, còn một bên có nghĩa vụ thực hiện cho bên kia công việc nhất định mà không có quyền yêu cầu. Những quan hệ nghĩa vụ ở dạng này được gọi là quan hệ đơn vụ.

Mặt khác, trong phần lớn các quan hệ nghĩa vụ thì mỗi bên chủ thể tham gia đều có quyền yêu cầu bên kia thực hiện những hành vi nhất định nhằm đem lại lợi ích cho mình. Và ngược lại họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định nhằm đáp ứng lợi ích cho phía bên kia. Nghĩa là, trong những quan hệ nghĩa vụ, mỗi bên chủ thể vừa là người có quyền, vừa là người có nghĩa vụ. Những quan hệ nghĩa vụ ở dạng này được gọi là quan hệ song vụ. Khi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quan hệ nghĩa vụ mang tính song vụ càn phải xem xét để xác định tương ứng với hành vi nhất định, chủ thể nào là người có nghĩa vụ thực hiện hành vi đó.

Ví dụ: Quan hệ nghĩa vụ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mua bán tài sản là quan hệ song vụ. Trong đó, đối với hành vi giao vật bán thì bên bán là người có nghĩa vụ, đối với hành vi trả tiền thì bên mua là người có nghĩa vụ.

 

4.2 Nội dung của nghĩa vụ

Khi tham gia quan hệ nghĩa vụ, mỗi bên hướng tới lợi ích nhất định. Theo đó, lợi ích mà một bên hướng tới chỉ đạt được khi bên kia thực hiện đầy đủ các hành vi mang tính nghĩa vụ của họ. Quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự là hai yếu tố cấu thành nội dung của quan hệ nghĩa vụ.

Vì vậy, có thể nói nội dung của quan hệ nghĩa vụ là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nghĩa vụ có thể do các bên tự thoả thuận xác định hoặc do luật định. Bao gồm:

- Quyền yêu cầu: Là xử sự mà bên có quyền được phép thực hiện theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Xử sự được coi là quyền trong quan hệ nghĩa vụ chính là quyền yêụ cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định.

- Nghĩa vụ dần sự: Là xử sự bắt buộc theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện. Xử sự được coi là nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính là việc phải thực hiện hành vi nhất định như chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của bên có quyền.

 

4.3 Khách thể của nghĩa vụ

Ở góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì khách thể của quan hệ pháp luật là lợi ích mà các chủ thể hướng tới và nhằm đạt được. Quan hệ nghĩa vụ có đặc trưng cơ bản là quyền và nghĩa vụ của các bên luôn đối lập nhau một cách tương ứng. Vì vậy, trong các quan hệ nghĩa vụ, hướng tới quyền lợi của mình chính là việc chủ thể có quyền luôn hướng tới hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể phía bên kia. Ngược lại, để bên kia thực hiện lợi ích cho mình thì mỗi bên chủ thể đều phải quan tâm và thực hiện những hành vi nhất định để hoàn thành nghĩa vụ của mình. Nói cách khác, hành vi thực hiện nghĩa vụ của các bên chủ thể luôn được sự quan tâm và hướng tới của các bên chủ thể. Chẳng hạn, trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ một hợp đồng mua bán tài sản, để đạt được lợi ích của mình, bên mua quan tâm đến hành vi giao vật bán của bên bán, bên bán quan tâm đến hành vi trả tiền của bên mua. Mặt khác, để bên bán giao vật bán cho mình, bên mua phải thực hiện hành vi trả tiền, đe bên mua trả tiền, bên bán phải thực hiện hành vi giao vật. Vì vậy, hành vi thực hiện nghĩa vụ là khách thể trong quan hệ nghĩa vụ.

Khách thể của quan hệ nghĩa vụ là những xử sự của các bên chủ thể mà chỉ thông qua đó, quyền yêu cầu cũng như nghĩa vụ của các chủ thể mới được thực hiện.

Hành vi thực hiện nghĩa vụ là một phương tiện mà thông qua đó, quyền lợi của các chủ thể được thực hiện. Vì vậy, trong các quan hệ nghĩa vụ, hành vi là cái mà các chủ thể đều hướng tới, là khách thể nói chung của mọi quan hệ nghĩa vụ. Tuy nhiên, tương ứng với sự đa dạng của các quan hệ nghĩa vụ, hành vi là khách thể của quan hệ nghĩa vụ cũng rất đa dạng, phong phú.

Trong nhiều quan hệ nghĩa vụ, hành vi của các chủ thể gắn liền với một vật nhất định mà nếu không có vật đó sẽ không có hành vi. Ví dụ: Nếu không có vật bán sẽ không có hành vi giao vật bán. Vật được gắn liền với hành vi trong quan hệ nghĩa vụ, được gọi là đối tượng của nghĩa vụ. Đối tượng của nghĩa vụ có ý nghĩa quan trọng. Nếu thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của một bên, quyền của bên kia sẽ được thoả mãn thì chỉ thông qua tính chất, đặc điểm của đối tượng mới thấy được quyền của bên có quyền đã được thoả mãn ở mức độ nào. Vì vậy, trong các quan hệ nghĩa vụ mà hành vi với tư cách là khách thể của quan hệ nghĩa vụ đó gắn liền với vật thì bên có quyền không chỉ quan tâm tới hành vi mà còn quan tâm đến vật gắn liền vói hành vi đó.

Ví dụ: Trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ một hợp đồng mua bán tài sản, người mua không chỉ quan tâm đến việc người bán có chuyển vật bán cho mình hay không mà còn quan tâm đến vật mà người bán chuyển giao có đúng với số lượng, chất lượng hoặc tình trạng như đã thoả thuận hay không.

Trái lại, trong các quan hệ nghĩa vụ mà hành vi của chủ thể không gắn liền với vật thì bên có quyền chỉ cần quan tâm đển việc thực hiện hành vi đó của chủ thể mang nghĩa vụ.

Ví dụ: Trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ một hợp đồng dịch vụ thì bên thuê dịch vụ chỉ cần quan tâm đến việc bên cung ứng dịch vụ thực hiện hành vi cung ứng dịch vụ như thế nào, có bảo đảm quyền và lợi ích của mình hay không.

Hành vi (sự xử sự của các chủ thể) có thể được thể hiện ở dạng hành động (tác vi) nhưng cũng có thể được thể hiện ở dạng không hành động (bất tác vi). Nếu hành vi là hành động và kết quả được tạo ra từ hành vi đó là vật cụ thể thì hành vi này được gọi là hành vi được vật chất hoá. Trái lại, nếu kết quả đó không phải là một vật cụ thể, thì hành vi này là hành vi không được vật chất hoá. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp hành vi còn tồn tại ở dạng không hành động (khi đối tượng của nghĩa vụ là một công việc không được làm). Trong những trường hợp này, người ta quan tâm đến sự "bất động" của nhau, vì chính sự "bất động" đó sẽ bảo đảm lợi ích cho bên có quyền.

 

5. Căn cứ phát sinh việc bù trừ nghĩa vụ dân sự:

Khi các bên trong một quan hệ pháp luật dân sự đều có nghĩa vụ với nhau và các nghĩa vụ đều có thể xác định rõ ràng về mặt giá trị thì có thể bù trừ cho nhau trừ các trường hợp sau đây:

Nghĩa vụ không được bù trừ trong trường hợp sau đây:

1. Nghĩa vụ đang có tranh chấp;

2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;

3. Nghĩa vụ cấp dưỡng;

4. Nghĩa vụ khác do luật quy định.

Luật Minh Khuê (biên tập)