1. Quyền xác định lại giới tính của cá nhân.

Theo Khoản 1 Điều 36 Bộ luật dân sự 2015:

Cá nhân có quyền xác định lại giới tính.

Có thể hiểu "Giới tính" là một tập hợp những đặc điểm riêng biệt, tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ, Ví dụ: đàn ông: to khoẻ, bộc trực, cứng rắn; phụ nữ: nhỏ yếu, kín đáo, dịu dàng. Theo khái niệm trên, giới tính trước hết là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ thể hiện qua cơ quan sinh dục, hooc-mon và nhiễm sắc thể.

Giới tính thường hau bị nhầm lẫn với giới.

Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa phụ nữ và nam giới ví dụ như: vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị. Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình dạy dỗ, học tập và có sự khác nhau theo từng nền văn hóa, từng thời kỳ. Như vậy, giới là yếu tố thuộc cảm nhận, mong muốn của mỗi cá nhân, suy nghĩ của người đó về mình là nam hay nữ; còn giới tính là sự thể hiện bên ngoài của giới thông qua các cấu tạo bộ phận trên cơ thể. Sự biểu hiện của giới tính so với giới có thể thống nhất hoặc khác biệt. Khi giới và giới tính không thống nhất, cá nhân thường có mong muốn được chuyển đổi giới tính, tức là thay đổi cấu tạo, hình dáng các bộ phận trên cơ thể cho phù hợp với cảm nhận, suy nghĩ của mình.

2. Trường hợp nào thì cá nhân được xác định lại giới tính của mình?

Cá nhân có quyền xác định lại giới tính nếu thỏa mãn điều kiện:

+ Giới tính của cá nhân bị khuyết tật bẩm sinh; hoặc

+ Giới tính của cá nhân chưa định hình chính xác và cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính.

Theo Bộ luật dân sự 2015:

Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính.

"Khuyết tật bẩm sinh" về giới tính là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người ngay từ khi mới sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật;

"Giới tính chưa được định hình chính xác" là những trường hợp chưa thể phân biệt được một người là nam hay nữ xét về cả bộ phận sinh dục và nhiễm sắc thể giới tính.

3. Thủ tục xác định lại giới tính.

Văn bản chuyên ngành điều chỉnh việc xác định lại giới tính là Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính; Thông tư số 29/2010/TT-BYT ngày 24/5/2010 của Bộ Y tế hướng dẫn thi hành một sổ điều của Nghị định sổ 88/2008/NĐ-CP.

Nguyên tắc xác định lại giới tính là:

- Bảo đảm mỗi người được sống đúng với giới tính của mình;

- Việc xác định lại giới tính phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, khách quan, trung thực, khoa học và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định lại giới tính;

>> Xem thêm:  Quy định mới nhất của pháp luật về việc cho phép chuyển giới ?

- Giữ bí mật về các thông tin liên quan đến người được xác định lại giới tính, trừ trường hợp có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ phục vụ cho việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố và xét xử liên quan đến việc xác định lại giới tính.

Những hành vi liên quan đến việc xác định lại giới tính bị nghiêm cấm là:

- Thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính;

- Thực hiện việc xác định lại giới tính khi chưa được phép của Bộ Y tế hoặc Sở Y tể tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Tiết lộ thông tin về việc xác định lại giới tính của người khác;

- Phân biệt đối xử đối với người đã xác định lại giới tính.

Thủ tục xác định lại giới tính:

- Người đề nghị xác định lại giới tính gửi hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính đến cơ sở khám, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính.

- Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho người đề nghị xác định lại giới tính trong thời gian 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn. Nếu không chấp nhận thì phải trả lời và nêu rõ lý do bằng văn bản.

- Cơ sở khám, chữa bệnh đã thực hiện việc can thiệp y tể xác định lại giới tính cấp giấy chứng nhận y tế sau khi đã xác định lại giới tính cho người đã được can thiệp y tế. Giấy chứng nhận y tế là căn cứ để đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính, ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

Hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính:

Theo điều 7 Nghị định 88/2008/NĐ-CP thì hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính bao gồm:

- Đơn đề nghị xác định lại giới tính theo mẫu quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế. Trường hợp xác định lại giới tính cho người chưa đủ 16 tuổi thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó phải có đơn đề nghị; trường hợp xác định lại giới tính cho người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì trong đơn đề nghị phải có chữ ký của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó;

- Bản sao hợp lệ giấy khai sinh hoặc chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ khẩu hoặc hộ chiếu.

4. Đăng ký thay đổi hộ tịch khi xác nhận lại giới tính.

Bộ luật dân sự năm 2015 đã tạo điều kiện cho việc ổn định và hòa nhập cuộc sống của những người xác định lại giới tính thông qua việc quy định họ có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch, có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại. Ví dụ như cá nhân sau khi xác định lại giới tính thì giới tính thật là nữ có quyền thay đổi tên hiện có là nam giới sang tên nữ giới để phù hợp với cuộc sống, sinh hoạt, có quyền kết hôn với người nam khác theo pháp luật hôn nhân và gia đình.

Theo Nghị định 88/2008/NĐ-CP thì

Điều 11. Căn cứ để đăng ký hộ tịch sau khi đã xác định lại giới tính

Giấy chứng nhận y tế quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định này là căn cứ để đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính.

Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

Thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

5. Cá nhân có quyền chuyển đổi giới tính không?

Lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật dân sự của Nhà nước ta đã ghi nhận về chuyển đổi giới tính của cá nhân theo Điều 37 Bộ luật dân sự năm 2015. Quy định này đã bảo đảm tốt hơn quyền con người, các quyền dân sự của cá nhân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.

Điều 37. Chuyển đổi giới tính

Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

Người chuyển đổi giới tính là một trong nhóm LGBT (người đồng tính, song tính và chuyển giới).

“Người chuyển giới là người có giới tính mong muốn không trùng với giới tinh khi sinh ra, không phụ thuộc tình trạng cơ thể đã phẫu thuật hay chưa"

“Người chuyển giới nữ là người sình ra là nam và có giới tính tự nhận, nghĩ rằng mình là nữ”; “Người chuyển giới nam là người sinh ra là nữ và có giới tính tự nhận, nghĩ rằng mình là nam".

Khái niệm chuyển đổi giới tính còn hay bị nhầm lẫn với khái niệm xác định lại giới tính. Xác định lại giới tính là một quyền nhân thân được quy định tại Điều 36 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 36 quy định: “... Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hĩnh chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính". Điểm khác biệt cơ bản nhất giữa xác định lại giới tính với chuyển đổi giới tính là xác định lại giới tính được thực hiện trong trường hợp có khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác về giới tính. Những người này hoàn toàn nhận thức được giới tính đích thực của mình là nam hay nữ. Đối với người chuyển đổi giới tính thì họ lại có cấu tạo sinh học hoàn chỉnh và việc chuyển đổi giới tính là xuất phát từ nhu cầu sống với đúng cảm nhận, suy nghĩ và tình cảm của con người họ.

Việc chuyển đổi giới tính là một quá trình phức tạp, ảnh hưởng sâu sắc đen chính bản thân của người chuyển giới và gây ra những hệ lụy xã hội phức tạp. Do đó, việc chuyển đổi giới tính phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, với những điều kiện, thủ tục chặt chẽ. Thực tiễn pháp luật của một số nước trên thế giới thường quy định về độ tuổi, tâm sinh lý, sức khỏe, hồ sơ, thủ tục... khi tiến hành chuyển đổi giới tính.

Điều 37 Bộ luật dân sự năm 2015 đã thừa nhận cho cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Việc đăng kí hộ tịch của những cá nhân này vừa được coi là quyền và vừa là nghĩa vụ. Bởi lẽ, việc đăng kí hộ tịch của những cá nhân chuyển giới là mong mỏi, là điều kiện để họ giải quyết các “rắc rối pháp lý” trong cuộc sống khi họ chưa được ghi nhận quyền này. Đồng thời, những cá nhân đã chuyển giới có nghĩa vụ phải đăng kí thay đổi hộ tịch để cơ quan nhà nước còn quản lý. Với ghi nhận này, những cá nhân đã tiến hành chuyển đổi giới tính trước ngày 01/01/2017 (ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật) được quyền thay đổi giới tính trên-các giấy tờ như: Chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu... Đồng thời với việc thay đổi giới tính trên các giấy tờ tùy thân, người chuyển đổi giới tính thường còn có nhu cầu thay đổi tên. Bởi tên của mỗi cá nhân thường được đặt phù hợp với giới tính của mỗi cá nhân khi được sinh ra.

Để đảm bảo cho cá nhân đã chuyển đổi giới tính, Bộ luật dân sự năm 2015 còn ghi nhận cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hiểu thể nào về xác định lại giới tính?

Trả lời:

Xác định lại giới tính là trường hợp những người có giới tính bị khuyết tật bẩm sinh, về căn bản họ chỉ bị khuyết tật về bộ phận sinh dục, nên nhu cầu thực sự của họ không phải là chuyển đổi giới tính mà họ chỉ muốn trở về giới tính sinh học thực chất của họ, họ chỉ muốn có cấu tạo bên ngoài và bên trong cơ thể thống....

Câu hỏi: Người đòng tính có được tổ chức đám cưới?

Trả lời:

Những người đồng tính có thể tổ chức đám cưới, sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không được thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Câu hỏi: Thế nào là hôn nhân đồng giới?

Trả lời:

Hôn nhân đồng giới hay hôn nhân đồng tính là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sinh học. Hôn nhân đồng giới có khi còn được gọi là "hôn nhân bình đẳng" hay "bình đẳng hôn nhân".