1.Khái quát chung
Khi thể hiện thuật hùng biện, luật sư không những cẩn có lý lẽ linh hoạt, chuẩn mực, rõ ràng và có tính thuyết phục mà còn cần nhiều yếu tổ có liên quan mật thiết đến biện luận, đó là cử chỉ và điệu bộ.
Những cử chỉ, điệu bộ của luật sư song hành đồng thời với thời điểm biện luận, và được coi là động thái rất tự nhiên của luật sư. Chính vì là cử chỉ và điệu bộ mang động thái tự nhiên cho nên luật sư thường không chú ý đến những chi tiết này. Nhưng sự thật, cử chỉ và điệu bộ của luật sư luôn phản ánh sự tự tin, tính phù hợp với ngôn ngữ và nó có tác dụng không nhỏ, góp phẩn tạo nên sự hấp dẫn, tính thuyết phục của thuật hùng biện.
2. Dáng đứng
Khi đứng biện luận, luật sư phải đứng sao cho dáng minh thật ngay ngắn, thể hiện tính nghiêm túc của công việc nhưng
không được gò bó, mà phải thật tự nhiên. Tuy nhiên, dáng hình của mỗi người còn tùy thuộc vào chiều cao, tạng người béo hay gầy và có thể còn có tật bẩm sinh. Nhưng cho dù dáng hình thần thể có như thế nào đỉ chăng nữa thì khi đứng, luật sư luôn phải chú ý đến tư thế đứng sao cho phù hợp với mình và theo một chuẩn mực chung về cách đứng thông thường của người diễn thuyết. Cách đứng có thể đứng ngay ngắn và nhìn thẳng vê' phía người đối diện, nhưng cũng có thể đứng lệch nghiêng một chút so với khán đài phía trước thì tư thế đứng của luật sư sẽ trông thật tự nhiên và nghiêm túc nhưng không kém phần thân thiện với người ngồi đối diện. Khi đứng, tư thế của hai bàn chân phải thể hiện là trụ tỳ vững chãi, cần chú tâm, không nên: rung chân, chân co, chân duỗi, không ngọ nguậy, ngo ngoe bàn chần... Nói chung, luật sư cần hết sức chú ý đến cách đứng của mình sao cho thật thoải mái trong khuôn khổ đứng để diễn thuyết trước những người khác; luôn chú ý rằng đang có người khác trước mặt mình, thì sẽ cẩn trọng hơn. Trừ khi luật sư là người có dị tật về thân thể do bị thương tích trong sinh hoạt, lao động, trong chiến tranh, do sức khỏe hoặc do bẩm sinh, còn đại đa số là người bình thường cho nên khi đứng để biện luận thì luật sư phải thật chú trọng đến dáng đứng và tư thế đứng của mình. Điểu đó sẽ làm tăng tính hiệu quả của biện luận. Thế đứng của luật sư thể hiện không những phong cách, mà còn thể hiện bản lĩnh của luật sư khi biện luận, phản ánh phần nào tố chất của luật sư và về tính chủ động, tự tin của luật sư trong khi biện luận.
3.Động thái của hai bàn tay và cánh tay
Bàn tay và cánh tay của luật sư hùng biện cũng cần được quan tâm. Thông thường, hai cánh tay cử động theo cung bậc ngôn ngữ, sự biểu đạt cảm xúc của luật sư cho nên người nghe dễ nhận biết nhất về tâm tính của luật sư. Các động tác cánh tay, bàn tay phải biểu lộ được tính cách, ý chí và cảm xúc của luật sư hài hòa và chính xác. Không có công thức hay quy tắc nào về việc khi biện luận thì hai bàn tay của luật sư phải để như thế nào, cử động ra sao theo ngôn ngữ của luật sư. Việc luật sư sử dụng động tác của hai bàn tay khi diễn thuyết như thế nào là tùy thuộc vào thói quen của luật sư. Tuy nhiên, khi diễn thuyết thì luật sư nên chú ý tránh sử dụng những động tác của tay như sau:
- Không nên cứ một từ nói ra là chém tay hoặc mổ bàn tay chụm lại vào không khí một lần như điểm nhấn.
- Không nên xòe hai bàn tay ra và ấp ra ấp vào nhau khi thể hiện mỗi câu hay mỗi từ.
- Không nên giơ một cánh tay lên cao và chém xuống liên tiếp như “bổ củi” vào khồng khí, hay nói cách khác là “chém gió” quá nhiều.
- Không nên để ngón tay trỏ vào khóe miệng bất di bất dịch.
- Không nên lau mồ hôi mặt bằng tay áo.
- Không nên dùng cả bàn tay để quệt mồ hôi trên khuôn mặt của mình...
Những động tác nêu trên của luật sư đang diễn thuyết sẽ gây phản cảm cho người nghe.Có không ít trường hợp khi diễn thuyết, người nói có các cử chỉ không phù hợp với ngôn ngữ và nội dung của vấn đê' dẫn đến ít có ấn tượng với người nghe, kể cả nội dung và phong cách thể hiện. Dấu hiệu của bàn tay phải là một trong những phương tiện thể hiện được ý chí và cảm xúc của luật sư và được dùng để làm tôn lên sự hấp dẫn của ngôn ngữ diễn thuyết. Nó không được trái với ngữ cảnh, ngữ điệu và nội dung cần thể hiện của người diễn thuyết.
Khi thể hiện tình cảm hoặc đồng điệu với một sự kiện, hoàn cảnh cụ thể, luật sư muốn thể hiện cảm xúc của mình thì có thể dùng bàn tay mở áp lên khuôn ngực của mình. Đồng thời kết hợp với động thái của đầu hơi cúi xuống và ngôn ngữ vừa phải, chậm rãi nhưng phải thật có hồn thì mới truyền tải đến người nghe tấm lòng trung thực của người diễn thuyết.
4.Ánh mắt
Nếu nói một cách văn vẻ thi đôi mắt là “cửa sổ” của tâm hồn con người. Thần của đôi mắt thể hiện tâm trạng và phản ánh yếu tố nội tâm của con người. Theo sự trải nghiệm, người ta nhìn vào mắt của một người khác cũng có thể đoán biết được phẩn nào tâm trạng và tình cảm của người đó. Ánh mắt và tia nhìn phản ánh tương đối chính xác tâm trạng, cảm xúc và sự trung thực hay không trung thực của một người đang nhìn ta. Người đang có nỗi buồn, đang có tâm trạng không vui, người đang đau khổ, người đang chán nản thì ánh mắt không thể trong sáng tự nhiên được. Có những đôi mắt làm ta bị ám ảnh mãi, và có nhiều ấn tượng đẹp về người có ánh nhìn đó. Nhưng cũng có ánh mắt làm ta thất vọng và thiếu niềm tin, không để lại trong ta một dấu hiệu nào của tình người, lòng nhân ái, thậm chí là có cái nhìn vô hồn, vô cảm với mọi người.
Luật sư khi hùng biện phải luôn nhìn thẳng, không nên nhìn xiên, nhìn ngang, nhìn xéo nháy mắt... trong khi biện luận sẽ gây ra sự hiểu lầm là không trung thực. Thần hồn của ánh mắt phải tự tin, vui và nhân ái. Thần hồn của mắt không phải bao giờ và khi nào cũng thể hiện được toàn bộ tư duy, cảm xúc của luật sư, nhưng khi biện luận phải quan tâm đến khía cạnh này. Luật sư một khi đã trung thực, thẳng thắn và bản lĩnh, hiểu được vai trò và vị trí của mình thì sự thể hiện ánh mắt sẽ biểu lộ rất rõ khi biện luận. Thần hồn của ánh mắt phải phù hợp với nội dung biện luận, nếu nội dung buồn thì ánh mắt phải buồn theo, tia nhìn ở góc độ hẹp hơn. Tẩm xa, gần của tia nhìn phản ánh tâm hồn và cảm xúc, do vậy luật sư phải luôn giữ cho được thần thái trong “tia nhìn” của mình. Ánh nhìn của luật sư khi hùng biện phải điềm tĩnh tự nhiên, nghiêm túc, thể hiện được cái hồn của ngôn ngữ biện luận.
5.Khắc phục hạn chế về giọng khàn, giọng kim, nói lắp
Trong nghệ thuật hùng biện thì thanh âm của tiếng nói thật sự quan trọng. Sự biểu đạt tư duy, quan điểm của luật sư thông qua ngôn ngữ nói, do vậy âm sắc của giọng nói cần được luật sư coi trọng. Tuy nhiên, âm sắc giọng nói của luật sư còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố về giới tính, vê' độ tuổi, về thanh quản tốt hay không tốt, vê' lưỡi, vê' âm vực của giọng. Điều đó liên quan đến sự rèn luyện, đến bệnh lý, đến thương tật hoặc có thể còn do bẩm sinh của mỗi cá nhân luật sư.
Muốn khắc phục những hạn chế của giọng nói, luật sư phải tự mình cảm nhận được và phải tìm đúng phương pháp. Nếu phát âm không thật rõ phẩn phụ âm hay những từ cuối cùng của một câu thì cần phải khắc phục điểm yếu đó bằng cách nói rõ tiếng và tránh nói nhanh, kể cả khi xúc động. Hơn nữa, muốn nói cho người khác hiểu thì trước hết mình phải nghe rõ được giọng nói của mình để có cơ sở điều chỉnh vê' ầm lượng, tốc độ, về thang ầm thanh và độ giãn cách giữa các từ. Âm vực và ngữ điệu của ngôn từ còn phụ thuộc nhiều vào vùng, miền (phương ngữ) nhưng điều đó không phải là trở ngại lớn trong việc biện luận của luật sư, miễn là luật sư phải biết cảnh giác đỗi với những từ phát âm khó.
Khi trình bày vấn đề, luật sư phải quan sát nét mặt của người nghe để hiểu được phần nào sự tác động của ngôn ngữ đến với họ. Điều này rất khách quan và dựa vào phản ứng của người nghe, luật sư chắc chắn sẽ biết điều chỉnh giọng nói, tốc độ nói, âm lượng cho phù hợp.
Giọng khàn
Theo Từ điển tiếng Việt thì giọng khàn là tiếng (giọng) “trấm và rè, không thanh, không gọn”. Luật sư không nên nói với ầm vực cao quá, nếu giọng khàn mà nói ở âm vực cao thì càng về cuối càng khó nghe xù giọng khàn âm phát ra không được nẩy, được rõ. Nhưng nếu nói ở ầm vực thấp quá thì cũng không thể nghe được vì ranh giới giữa các tiết tấu của ầm thanh, giữa từ này với từ kia không rõ ràng do dư âm của từ trước chưa chấm dứt hẳn đã kế tiếp từ sau sẽ tạo ra mối giao thoa giữa từ nói trước với từ nói sau liền mạch cho nên khó mang thông tin đến cho người nghe hiểu được mình nói gì. Giọng khàn phải nói chậm hơn giọng bình thường, và nếu nói qua micro thì miệng phải để cách micro một khoảng cách sao cho phù hợp để khắc phục được sự cộng hưởng giữa tiếng ổn của micro và giọng nói khàn của mình. Ai cũng muốn có một giọng nói trong trẻo, nhưng do nhiều nguyên nhân mà giọng của một người có thể trở nên khàn. Các nguyên nhân đó có thể là do bị cảm, do giải phẫu vòm họng, giải phẫu bộ phận cơ thể mang tính chức năng có liên quan đến bộ phận phát âm, hoặc là dị tật, hoặc là hút thuốc lá, uống rượu nhiều, hoặc là bệnh khô vòm họng... Chỉ khi nhận biết được nguyên nhân dẫn đến giọng bị khàn thi luật sư mới có thể khắc phục và điều chỉnh được trong khi biện luận.
Giọng khàn cũng có cái duyên riêng. Người có giọng khàn không nên bi quan mà cần sử dụng cái duyên riêng của mình để biện luận. Giọng khàn mà có bản lĩnh, có quan điểm và kiến thức chắc chắn, sâu rộng, vốn sống phong phú và được sử dụng hợp lý trong khi biện luận thì có thể tạo ra các điểm nhấn quan trọng, gây được nhiều cảm tình cho người nghe.
Giọng kim
Trong Từ điển tiếng Việt không có định nghĩa giọng kim là gì, nhưng trong đời sống xã hội người ta thường nhận xét người này giọng kim, người kia giọng khàn, người nọ giọng thổ... Giọng kim được đê' cập trong tiểu mục này chỉ hiểu theo một nghĩa là giọng thanh nhẹ, nhỏ và gọn. Giọng kim thường gặp ở phụ nữ, nhưng cũng không loại trừ có trường hợp nam giới cũng có giọng kim. Nếu luật sư có giọng kim thì cách khắc phục là nói phải có sự trợ giúp của micro và những động tác của ánh mắt, bàn tay phù hợp với chất giọng và ngữ điệu khi thực hiện biện luận. Hình thức và âm lượng giọng nói không phải là tiêu chí để đánh giá người này có tố chất tốt, có bản lĩnh mạnh và có sức khỏe dồi dào hay không. Sức mạnh của trí tuệ và cách thể hiện sức mạnh của trí tuệ là những yếu tố quan trọng làm nên sự thành công và uy tín của luật sư. Cho nên, người có giọng kim khi thực hiện việc bảo vệ khách hàng của mình trước tòa án thì nên tự tin, trình bày với câu chữ rõ ràng, nói chậm và ngữ điệu chuẩn, phù hợp với tính chất của vụ việc để người khác nghe rõ và hiểu được quan điểm và bản lĩnh của mình. Lẫy sức mạnh của trí tuệ, bản lĩnh của luật sư để khắc phục chất giọng mỏng, nhỏ của mình thì chắc chắn rằng luật sư sẽ thành công khi biện luận.
Nói lắp
Luật sư mà bị mắc tật nói lắp, cách khắc phục tốt nhất là nói chậm, rõ từng từ và đừng bị ám ảnh rằng mình có tật nói lắp. Luật sư phải luôn có tư tưởng là đang tầm tình với những người xung quanh và họ đang hiểu vấn đề mình trình bày, họ cũng đang hứng khởi lắng nghe, mình đang nói rất hấp dẫn và lôi cuốn. Trường hợp này luật sư nên trình bày quan điểm của mình thật thong thả, bằng một giọng nói thật có hổn. Khi nói lắp, không được mất bình tĩnh mà luôn phải là người chủ động nói chậm lại, diễn cảm hơn, nghe được rõ ràng giọng nói của mình và hài lòng với những từ mình đã phát ầm ra.
Nói lắp là một dị tật nhỏ cho nên đừng quá bận tâm về nó. Hãy làm chủ kiến thức của mình và tự tin thể hiện những kiến thức đó, thì sẽ chiếm được cảm tình của người nghe. Tiết tấu của ngôn từ phù hợp với người nói lắp là biết ngắt nhịp ở những điểm người diễn thuyết hay mắc phải dấu hiệu nói lắp. Cho nên
người nói lắp nên nói câu ngắn và nên tránh chuyển các thanh âm từ thanh bằng sang thanh trắc. Có nghĩa là thanh bằng và thanh trắc nếu gặp phải trong ngôn ngữ biện luận, chúng có vị trí liền kê' nhau thì nên lựa chọn các từ đồng thanh âm thì sẽ tránh được nói lắp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khi diễn thuyết có đôi chỗ nói lắp nhưng mà lại hợp với ngữ cảnh thì nói lắp là một điểm nhấn gây ra sự độc đáo của luật sư. Điểm nhấn này không phải ai cũng có, kể cả người không nói lắp mà muốn gây sự chú ý cho người khác và muốn làm duyên một chút cho ngữ điệu của quá trình biện luận, thì cũng nên phá cách sẽ gây được cảm tình của người nghe hơn.
Tóm lại, thuật hùng biện luôn đòi hỏi luật sư phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp biện luận của mình. Nếu luật sư nào có những dị tật vể lời nói thì phải cố gắng khắc phục để dị tật đó không còn tồn tại hoặc không gây ảnh hưởng đến thuật hùng biện của luật sư.