1.Bài thơ của Lý Thường Kiệt
Vào cuối năm Bính Thìn (1076), nhà Tống ồ ạt đưa quân sang xâm lược nước ta. Quân đội Đại Việt lúc bấy giờ do Lý Thường Kiệt chỉ huy. Giặc đổ bộ xuống bờ Bắc sông Cầu và đội quân tiên phong của chúng đã bước đầu chọc thủng được chiến tuyến Như Nguyệt. Nếu muốn giành lại được thế chủ động trên chiến trường thì phải đánh tan đội quân tiên phong của giặc. Để thực hiện có kết quả ý định này, trước hết phải vực dậy tinh thần đánh giặc của binh sĩ và tạo nên tâm lý vững vàng, tin vào chiến thắng của chính nghĩa, Lý Thường Kiệt đã làm bài thơ này:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bản dịch dưới đây của Trần Trọng Kim:
Sông núi nưổc Nam, vua Nam ở
Rành rành ghi rõ ở sách trời.
Cổ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Khi nghe được bài thơ, từ binh đến sĩ đều có tinh thần phấn chấn và đều muốn giết giặc lập công.
Khẩu khí của Lý Thường Kiệt được thể hiện trong từng câu của bài thơ được vang lên qua giọng đọc của binh sĩ. Sau này, nội dung bài thơ được nhân dân đánh giá như bản “tuyên ngôn” đầu tiên của nước nhà. Bản hùng văn này thể hiện niềm tự hào của dân tộc không chịu khuất phục trước nạn ngoại xâm.
Tinh thần bài thơ là sự khẳng định chủ quyền đất nước và lập trường chính nghĩa của ta. Mở đầu bài thơ là niềm tự hào về chủ quyền đất nước: “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Đó là sự thật hiển nhiên như chân lý đã được định đoạt ở trời cao. Thế nhưng, điều ấy đã được tôn trọng. Thế nhưng giặc bạo tàn ỷ vào sức mạnh đã ngang nhiên xâm phạm nước ta, không tuân với ý trời, làm điều bất nghĩa.
Xưng nước Nam là phủ nhận đi cái mồ ma quận huyện trong đầu óc lũ xâm lược, coi mình đàng hoàng là một nước (Nam Quốc), có đầy đủ quyền hạn bà ngang hàng với nước Bắc (Bắc Quốc). Xưng vua Nam (Nam đế) là bác bỏ cái trịch thượng của vua nhà nó tự xưng là thiên tử (con trời), coi vua các nước khác là chư hầu, gọi là vương (Đinh Bộ Lĩnh xưng là Đinh Tiên hoàng đế, nhưng triều đình nhà Tống chỉ công nhận là Giao Chỉ quận vương, tước vương ở một quận). Tự hào, hiên ngang, mình tuyệt đối làm chủ đất nước mình và không phải nói suông. Chiến dịch đánh ngay vào căn cứ của chúng mấy tháng trước ngay trên đất chúng là một bằng chứng. Nước Nam, vua Nam không còn là chuyện chữ nghĩa mà là sự khẳng định ở tầm quốc gia, ở chủ quyền dân tộc vô cùng lớn lao.
2.Qua bài Hịch của Tướng sĩ Trần Hưng Đạo
Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo thế kỷ XIII chống quân Nguyên - Mông là một bản hùng văn thể hiện sự răn dạy và huấn luyện quân sĩ luôn luôn cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu chống giặc xâm lăng:
"... Ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đâm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quấn thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.
Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sông chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?
Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quôc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vỢ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm.
Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà bỉnh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai.
Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi củng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vỢ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi củng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muôn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?
Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc “đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ” làm nguy; nên lấy điêu “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đểu tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương bêu ở Cảo Nhại. Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bên mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vỢ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông
miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi củng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu cấc ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.
Vì sao vậy? Giặc Mông Thái với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điểm nhiên không muốn rừa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quấn sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đâu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?
Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta."
Hơn bảy thế kỉ đã trôi qua, kể từ ngày Hịch tướng sĩ được công bố, âm hưởng hào hùng của nổ như vẫn còn âm vang trong lòng mỗi người dân đất Việt, gieo vào lòng họ những cảm xúc mãnh liệt và niềm tự hào sâu sắc.
Bài hịch là một danh tướng kiệt xuất của triều Trần, vị chủ tướng của cuộc kháng chiến lúc bấy giờ. Với trọng trách mà dân tộc giao phó đè nặng trên đôi vai, với nhiệt tình yêu nước cháy bỏng, Trần Quốc Tuấn nung nấu một khát vọng cao cả: chiến thắng giặc thù, giữ yên giang sơn bờ cõi. Để khơi dậy ngọn lửa yêu nước và động viên ý chí chiến đấu trong ba quân tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã ra lời kêu gọi tướng sĩ bằng một bài Hịch bất hủ: Dụ Chư tỳ tưởng hịch vân - còn gọi là Hịch tướng sĩ văn, áng hùng văn của mọi thời đại.
Chất hùng văn của Hịch tướng sĩ được tạo nên từ nghệ thuật trữ tình hùng biện và tình cảm mãnh liệt, nồng cháy trong tim người anh hùng dân tộc. Tình cảm sục sôi và nhiệt tình yêu nước cháy bỏng, ý chí quyết chiến quyết thắng giặc thù làm nên chất nhân văn cao đẹp của bài hịch. Tình cảm ấy trước hết là lòng căm thù giặc sâu sắc, nỗi đau xót chân thành và mãnh liệt khi thấy đất nước bị giày xéo, tàn phá. Trần Quốc Tuấn đã lột tả bản chất tham lam, hống hách, tàn bạo của bọn giặc: Đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa thu bạc vàng. Thái độ của Trần Quốc Tuấn vừa căm giận vừa khinh bỉ. Để tỏ lòng căm giận và khinh bỉ của mình, tác giả đã sử dụng các hình ảnh ẩn dụ để chỉ bọn giặc, coi chúng như những loài cầm thú: cú diều, dê chó, hổ đói.
3. Bức thư dụ hàng Vương Thông của nhà Minh
Bức thư dụ hàng Vương Thông của nhà Minh do Nguyễn Trãi viết là một hùng thư, thể hiện rõ khí phách của nhân dân ta kiên cường chống ngoại xâm và thể hiện tính nhân đạo của dần tộc ta khi giặc lâm vào nguy cơ bị diệt vong, nếu chúng ngoan cố không tuân theo lời dụ này. Dần tộc ta anh hùng, nhưng mở đường hiếu sinh cho kẻ thù để bớt máu xương khi chúng ngoan cố sẽ chuốc lấy bại vọng. Bức hùng thư này đã cứu sống nhiều binh sĩ và chiến thắng của dân tộc ta trong trường hợp này là chiến thắng của trí tuệ và lòng nhân ái:
"Thư kính đưa quan Tổng binh và các vị đại nhân.
Người giỏi dùng binh là ở chỗ hiểu biết thời thế. Được thời và có thế thì biến mất thành còn, hóa nhỏ thành lổn; mất thời và không thế, thì mạnh hóa ra yếu, yên lại nên nguy, sự thay đổi ấy chỉ ồ trong khoảng bàn tay. Nay các ông không hiểu rõ thời thế, lại che đậy bằng lời dối trá, thế chẳng phải là hạng thất phu đớn hèn ư? Sao đủ để cùng nói việc binh được?
Trước đây các ông trong lòng gian dối, ngoài mặt mượn cổ giảng hòa, đắp lũy đào hào, chờ quân cứu viện, lòng dạ và hành đổng bất đồng, trong ngoài bất nhất, sao đủ khiến ta tin mà không ngờ được. Cổ nhấn có câu nói rằng: “Bụng dạ kẻ khác ta lường đoán được”, nghĩa là thế đó. Ngày xưa nhà Tần thôn tính sáu miởc, chuyên chế bốn bể, không chăm lo đức chính, thân mẩt nưởc tan. Nay Ngô mạnh không bằng Tẩn, mà hà khắc lại quá, không đầy một năm tất sẽ theo nhau mà chết, ấy là mệnh trời, không phải sức người vậy. Hiện nay phía bắc có kẻ địch Thiên Nguyên, phía nam có môi lo nội loạn ở các xứ Tầm Châu, một khu Giang Tả không tự giữ được, huống còn mưu toan đi cướp nước khác ư? Các ông không hiểu sự thế, bị người ta đánh bại, lại còn chực dựa uy Trương Phụ, thế có phải là đại trượng phu chăng, hay chỉ là đàn hà thôi?
Tinh thế ngày nay, dù có vị ngôi cao đem quân đến nữa, cũng chỉ càng mau chết mà thôi, huống chi Trương Phụ chỉ là đến nộp mạng, thì có gì đáng nói?
Nay các ông kế cùng lực kiệt, lính tráng mỏi mệt, trong không lương thảo, ngoài không viện hỉnh, bám hờ khu nhỏ mọn, nghỉ tạm thành chơ vơ, há chẳng phải như thịt trên thớt, cá trong nồi sao? Thế mà lại còn lừa dôi dân ta, dụ điêu phi nghĩa. Kìa những kẻ trung thần nghĩa sĩ, dù thời cùng vận khốn, cũng nếm mật nằm gai, không chịu đem lòng kia khác; lẽ nào ngày nay, lại chịu tin theo những lời bất nghĩa của các ông. Chỉ e người Nam trong thành nhớ mến chúa củ, người Ngô ở đây khốn khổ không kham thì những người chống các ông sẽ kéo nhau ra hàng; như Trương Phi, Lã Bố, các ông lại bị chính thuộc hạ giết hại, đó là lẽ tất nhiên.
Nay ở các thành, từ đô ti trở xuống, đều câm giận các ông lừa dổi, khuỵền ta làm cỏ cả thành. Hoặc có kẻ vượt lũy trốn ra, tố cáo cả việc sắp đặt chiến cụ, sửa đóng xe thang. Những người bị khốn sẽ giết lẫn nhau, hà tất phải đợi quân sĩ của ta nữa. Nay ta suy tính hộ các ông thì cái cớ bại vong có sáu!
Nước lụt mênh mông, tường rào đổ lở, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm; bại vong đó là một!
Xưa Đường Thái Tông bắt Kiến Đức mà Thế Sung phải ra hàng; nay bao nhiêu cửa quan hiểm trở đểu có bỉnh tướng đồn đóng, viện binh nếu đến, tất nhiên bị bại, viện bỉnh đã bại, các ông còn trốn đằng trời; bại vọng đó là hai!
Nước ông binh khỏe ngựa béo, nay còn để cả miền bắc phòng thủ quân Nguyên, không rỗi đâu nhìn sang nước Nam được; bại vong đó là ba!
Can qua liên miên, chinh phạt không nghỉ, người chẳng sống yên, nhao nhao thất vọng; bại vong đó là bốn!
Gian thần chuyên chính, chúa yếu trị vì, xương thịt hại nhau, “gia đình sinh biến”; bại vong đó là năm!
Nay ta dấy nghĩa quân, trên dưổỉ đồng lòng, anh hùng tận lực, quân lính càng luyện, khí giỏi càng tinh, vừa cày ruộng vừa đánh giặc, trong thành quân sĩ mỏi mệt, tự chuốc diệt vong; bại vong đó là sáu!
Ngồi giữ một mảnh thành con, để chờ sáu cái cớ bại vong ấy, thật tiếc thay cho các ông! Cổ nhân có câu: “Nước xa không cứu được lửa gắn”. Dù có viện binh đến đấy, cũng không ích gì cho sự bại vong cả. Trước đấy Phương Chính, Mã Kì đem đến cửa quân dâng nộp. Như vậy trong thành sẽ khỏi nạn cá thịt, trong nước sẽ khỏi vạ đau thương, hòa hiếu lại thông, can qua xếp bỏ. Nếu muốn rút quân vê nước, ta sẽ sửa sang cẩu cống, mua sắm tàu thuyền, thủy lục hai đường, tùy theo ỷ muốn; quấn ra khỏi cõi,
muôn phần bảo đảm được yên ổn, không lo ngại gì; nước ta lại phụng cống xưng thần, theo như lệ trước.
Nếu không nghe theo lời ta như vậy, thì nên sắm quàn dàn trận, ra giao chiến ở giữa đồng bằng để quyết một trận thư hùng, đặng xem cái tài hơn kém, không nên ngồi rũ một xó hang cùng bắt chước cái lối đàn bà mà mang cái nhục khăn yếm như thế!"
Trong sự nghiệp phò tá Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh cướp nước, nhiều lần mưu sĩ Nguyễn Trãi đã soạn thảo thư từ gửi cho các tướng giặc để mắng nhiếc, khiêu khích hoặc dụ hàng, nhằm thực hiện chiến lược “mưu phạt tâm công”. Học giả Bùi Huy Bích đã nhận xét rất chính xác: “Các bức thư này có sức mạnh của mười vạn quân”.
Thư dụ hàng Vương Thông là một trong những bức thư thể hiện tính chất hùng văn của Nguyễn Trãi với tư thế của bên làm chủ, chủ động trên chiến trường chống giặc ngoại xâm dụ tướng giặc là Vương Thông ra đầu hàng nghĩa sĩ của Lê Lợi, thể hiện cách thắng giặc ngoại xâm là không cần đánh mà giặc vẫn tan. Với giọng hùng văn mạnh mẽ, sắc bén của Nguyễn Trãi thể hiện tinh thần quyết chiến, quyết thắng của nghĩa quân Lam Sơn đánh tan giặc cướp nước không chỉ bằng sức mạnh vũ khí cơ học, mà bằng cả sức mạnh của trí tuệ thông minh của quân và dân nước Đại Việt. Đúng như Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo.
4.Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/12/1946 thể hiện quyết tâm chống giặc ngoại xâm, thể hiện rõ khí phách quật cường của toàn dần tộc Việt Nam quyết không chịu mất nước, không cam chịu trước ách xâm lăng của thực dân Pháp.
Ngày 20/12/1946, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch:
Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhấn nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tối, vỉ chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào,
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dàn tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dấn Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nưổc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm!"
Toàn văn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dần ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
5. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một bản hùng văn, được Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam truyền đi ngày 17/7/1966:
Hỡi đồng bào và chiến sĩ cả nước!
Đế quốc Mỹ dã man, gày ra chiến tranh xấm lược hòng ăn cướp nước ta, nhưng chúng đang thua to.
Chúng ồ ạt mang gần 30 vạn quân viễn chỉnh vào miển Nam nước ta. Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước. Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực kỳ man rợ, như chất độc hoá học, bom napan, ... Chúng
dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phả sạch. Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đồng bào miền Nam ta.
Nhưng dưới sự lãnh đạo kiên quyết và khôn khéo của Mặt trận Dấn tộc giải phóng, quân và dân miền Nam ta đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu anh dũng, đã thắng lợi vẻ vang và quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn, để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tôi thống nhất nước nhà.
Giặc Mỹ trắng trợn dùng không quân bắn phá miền Bắc nước ta, hòng gỡ thế thất bại của chúng ở miền Nam và hòng ép chúng ta “đàm phán” theo ỷ muỗn của chúng.
Nhưng miền Bắc không hề nao núng. Quân và dân ta càng hăng hái thi đua sản xuất, chiến đấu anh dũng. Đến nay chúng ta đã bắn tan xác hơn 1.200 máy bay địch. Chúng ta quyết đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch, đồng thời hết sức hết lòng ủng hộ đồng bào miền Nam ruột thịt.
Gần đây, giặc Mỹ điên cuồng leo thang thêm một bước rất nghiêm trọng: Chúng bắn phả ngoại ô Hà Nội và Hải Phòng. Đó là hành động tuyệt vọng của chúng, khác nào con thú dữ bị thương nặng, giãy giụa một cách hung tợn trước hơi thở cuối cùng.
Giônxơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xàm lược ở miên Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn
máy hay, tăng cường đánh phá mỉển Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tàm chống Mỹ, cứu nước của nhắn dần Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một sô thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhấn dần ta sẽ xây dựng lại đất nưôc ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn?
"
Đồng bào và chiến sĩ yêu quýỉ
Chúng ta có chính nghĩa, có sức mạnh đoàn kết của toàn dân tứ Bắc đến Nam, có truyền thông đẩu tranh hất khuất, lại có sự đồng tình ủng hộ rộng lân của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ cả thế giới, chúng ta nhất định thắng!
Trước tình hình mới, chúng ta quyết đồng tâm nhất trí, vượt mọi gian khổ hy sinh, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của dân tộc ta là đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!
Nhân dịp này, tôi xin thay mặt nhân dấn Việt Nam, nhiệt liệt cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ hết lòng của nhân dân các nưôc xã hội chủ nghĩa, của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân
Mỹ. Hiện nay, trước âm mưu tội ác mới của đế quốc Mỹ, tôi tin chắc rằng nhân dấn và chính phủ các nưổc xã hội chủ nghĩa anh em, các nước yêu chuộng hoà bình và chính nghĩa trên thế giỏi càng ra sức ủng hộ và giúp đỡ hơn nữa nhàn dân Việt Nam chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Nhân dân Việt Nam nhất định thắng!
Giặc Mỹ xâm lược nhất định thua!
Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn năm!
Đồng bào và chiến sĩ cả nước, anh dũng tiến lên!"
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)