1.Tính chân thực trong thuật hùng biện của luật sư

Theo Từ điển tiếng Việt thì từ “chân thật” thuộc về ý thức tình cảm, được giải nghĩa là: “Đúng đắn, có như thế nào thì bày tỏ đúng như thế”. Chần thật thuộc về yếu tố nội tâm, là bản chất của ý thức, tình cảm đảm bảo sự đúng đắn, tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải, sự việc có như thế nào thì bày tỏ như thế, không nhằm mục đích làm sai lệch sự thật hoặc “bóp méo” sự thật, đánh tráo sự thật bằng thủ thuật lập luận ngụy biện để có lợi cho mình. Không cố ý làm sai sự thật khách quan để làm trái pháp luật gây thiệt hại không những cho bên có quyền, lợi ích đối lập, mà còn gây ra sự phản kháng về mặt tâm lý trong xã hội. Có những luật sư khi thực hiện trách nhiệm bảo vệ khách hàng của mình, đã cố ý sử dụng những ngôn ngữ gây ra phản cảm vì không có được một chứng cứ nào để phản bác bên có quyền, lợi ích đối
lập cho nên đã gây ra sự bất bình trong dư luận. Làm giảm sút không những uy tín của chính luật sư đó, mà còn gây ra những cản trở nhất định trong việc xem xét toàn bộ sự việc của hội đồng xét xử. Một người bình thường chỉ có thể nói hay, nói tự tin và diễn cảm được khi người đó dựa trên sự thật khách quan để làm căn cứ lập luận. Đối với luật sư, muổn thể hiện được tốt nhất thuật hùng biện của mình, thì phải dựa trên sự thật khách quan một cách trung thực nhất. Ngôn ngữ và ý nghĩa của ngôn ngữ chỉ có thể truyền tải đến người nghe khi mà ngôn ngữ đó được dựa trên sự thật. Sự thật là bằng chứng, đồng thời là sức mạnh của sự lôi cuỗn, thuyết phục khi luật sư biện luận.

Tuy nhiên, để nhằm đạt được ý đồ và mục đích bằng mọi giá, có luật sư đã không cần biết dư luận xã hội sẽ đánh giá về minh như thế nào cho nên đã cố ý bịa ra một sự kiện như có thật để biện luận. Nên nhó rằng tính năng động, linh hoạt của luật sư là một điều thật sự cần thiết trong nghề nghiệp, nhưng luật sư không thể chỉ nhằm đạt được mục đích của mình mà làm trái với lương tâm nghề nghiệp, bất chấp dư luận xã hội và bất chầp sự thật. Ở đây tác giả không đánh giá trí tưởng tượng của luật sư là không cẩn thiết, mà ngược lại rất cần thiết, vì tính bao quát sự kiện, xác định phạm vi của sự kiện về mặt không gian và thời gian để chủ động trong lập luận. Sự tưởng tượng của luật sư không phải nhằm để bịa ra một sự kiện nào đó không có thật, mà sự tưởng tượng đó được hình thành trên sự kiện có thật để xác định các sự kiện khác có liên quan; dự liệu các tình huống có thể phát sinh trong quá trình tố tụng và biện luận của mình.

Luật sư chỉ có thể nói hay, nói bằng tâm huyết của mình khi nắm vững được chính xác bản chất của sự kiện và những thông tin liên quan đến sự việc. Cảm xúc của luật sư xuất phát từ việc hiểu rõ bản chất của sự thật, cho dù sự thật đó có thể gây bất lợi cho khách hàng của mình, nhưng luật sư không nên né tránh. Khi sự kiện là một sự thật hiển nhiên, luật sư căn cứ vào đó mà lựa chọn phương thức thể hiện thuật hùng biện của mình. Sự thật là căn cứ, là chất liệu tạo thành hồn cốt của ngôn ngữ hùng biện. Nếu sự thật bị cố ý làm cho sai lệch thì sức thuyết phục của thuật hùng biện sẽ bị giảm sút. Khi luật sư thể hiện quan điểm của mình dựa trên những nguyên tắc pháp luật và sự kiện đang tồn tại thì không những sự kiện đó hội đồng xét xử cũng đang xem xét, mà phía chủ thể có quyền và lợi ích đối lập cũng rất quan tâm. Luật sư khi hùng biện không với tư cách là người độc thoại, mà là người có trách nhiệm sử dụng ngôn ngữ dựa trên căn cứ pháp lý và nguyên tắc pháp luật đang còn hiệu lực để nhằm làm rõ bản chất của sự kiện. Do vậy, sự thật luôn luôn là chỗ dựa vững chắc nhất và duy nhất để luật sư thể hiện thuật hùng biện và không có bất kỳ điểu gì có thể thay thế được.

2.Tính trung thực của luật sư

Luật sư luôn phải đối mặt với các sự kiện pháp luật, và là người có trách nhiệm làm rõ bản chất của sự kiện đó. Cho nên, luật sư là người phải hiểu nhiều và nói nhiều. Nhưng nói nhiều là nói những điều gì và nói như thế nào? Để nói được nhiều mà lại hay thì luật sư phải có vốn sống, vốn kiến thức về chuyên môn và có các chuẩn mực trong thuật hùng biện đã được phân tích trong cuốn sách này. Đồng thời, luật sư phải có được đức tính trung thực, là nguyên nhân tạo nên lòng tin đối với người khác và là cơ sở để người đó thành công trong cuộc sống, là một yếu tố tạo nên phẩm giá và nhân cách của con người.

Đức tính trung thực của con người không tự nhiên có, mà phải rèn luyện mới có được. Vì xung quanh cuộc sống và quan hệ có nhiều yếu tố mà con người muốn được an thân có thể không còn giữ được đức tính trung thực của mình. Rèn luyện tính trung thực đối với nhiều người không quá khó khăn, nhưng đối với một số người khác thật sự không dễ dàng chút nào. Có nhiểu người bất hạnh vì chính sự trung thực của mình. Như một quan hệ nhân quả, người không trung thực không trước thì sau cũng phải trả giá, không phải trả giá trong quan hệ này thì sẽ trả giá trong quan hệ xã hội khác.

Người ta chỉ có thể nói được một cách tự nhiên và tù tầm hồn những điều không bị vướng mắc về sự giả dối. Như vậy, tâm hồn trong sáng và tấm lòng trung thực là yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của vấn đề mà luật sư biện luận. Luật sư không thể biện luận hay khi mà những vấn đề đang được bàn luận là những vấn để dối trá. Khi tìm hiểu sự kiện mà mình định bảo vệ cho khách hàng của mình, thì luật sư cần thận trọng, tỉnh táo và hết sức khách quan. Sự thật có thể là những điều bất lợi nhưng luật sư cần phải xem xét và luôn tôn trọng sự thật đó. Tính trung thực của luật sư trong biện luận vô cùng quan trọng. Chỉ khi thật sự trung thực với tâm, đức và trách nhiệm của mình thì luật sư mới có thể biện luận được hay, hấp dẫn, có tính thuyết phục người khác theo những vấn đê' mình đang biện luận. Tính trung thực là vũ khí hữu hiệu được dùng để bảo vệ tốt nhất và hiệu quả nhất quyển và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Những điều mà luật sư không trung thực trong biện luận là điểm yếu nhất và dễ bị phía đối lập dựa vào đó để “bẻ gãy” ý đồ lập luận. Hơn nữa, tính không trung thực của luật sư còn tạo ra những cơ hội để người khác lạm dụng gây bất lợi cho luật sư. Đồng thời, sự không trung thực này cũng là khởi điểm dẫn đến dư luận bất lợi cho luật sư trong “làn sóng” tâm lý xã hội. Vì vậy, không có một phương pháp nào trợ giúp cho thuật hùng biện của luật sư bằng chính đức tính trung thực của luật sư.

3.Sức mạnh của sự tự tin, lòng dũng cảm và sự thiện tâm của hùng biện trong nghề luật 

Muốn nói hay phải hiểu chắc chắn về vấn đề mình đang nói. Hùng biện tốt trước tiên phải là người có bản lĩnh thực sự. Đối với luật sư, đó phải là người không sợ quyền lực, không sợ trù dập mà chỉ hướng tới bảo vệ được lẽ phải, lẽ công bằng.

Hùng biện có thu phục được nhân tâm hay không phụ thuộc rất lớn vào đạo đức của người thể hiện. Mọi lập luận, lý lẽ đưa ra cũng sẽ là vô nghĩa, nếu người luật sư không có trách nhiệm trong nghề nghiệp, không bảo vệ thân chủ từ chính động cơ cao đẹp vì lẽ phải, vì lợi ích chính đáng của con người. Thuật hùng biện cũng không giúp ích cho việc biến sai thành đúng. Trong hoàn cảnh nghề nghiệp ở Việt Nam, nói như Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, luật sư luôn phải hành xử với mình bằng một sự tự trọng, với người một cách liêm chính.[**] Có như vậy việc hành nghề mới được lâu dài và vững bền.

4. Các kỹ năng cần thiết của một luật sư

Bên cạnh trách nhiệm, nghĩa vụ, kinh nghiệm thì các kỹ năng cần thiết cũng là một trong những yếu tố để trở thành một luật sư giỏi. Dưới đây là những kỹ năng cần thiết của một luật sư.

Kỹ năng giao tiếp, hùng biện tốt

Một trong những điều bắt buộc không thể thiếu của một luật sư là khả năng giao tiếp và hùng biện tốt. Bởi đây là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của một luật sư.

Một người luật sư giỏi giao tiếp tốt sẽ gây thiện cảm cho thân chủ, đặc biệt là tạo mối quan hệ trong quá trình thực hiện vụ án. Bên cạnh đó, hùng biện giỏi sẽ giúp luật sư đưa ra được những câu trả lời tại tòa một cách tốt nhất. Từ đó, bảo vệ đường quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, thân chủ.

Có tư duy lập luận cùng khả năng phản biện tốt

Ngoài việc phải có khả năng hùng biện tốt thì người luật sư cần phải có khả năng phản biện và tư duy lập luận tốt. Bên cạnh đó, việc lắng nghe để tìm nguyên nhân, kẽ hở của vụ việc để tìm ra được lý do bào chữa thành công trước tòa cho thân chủ.

Kỹ năng đàm phán và thương lượng

Để duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng, thân chủ hay đối tác người luật sư cần có khả năng thương lượng và đàm phán. Điều này, tạo nên sự tin tưởng, tôn trọng của khách hàng nói riêng và mọi người nói chung.

Kỹ năng quản lý thời gian

Người luật sư chuyên nghiệp phải biết sắp xếp thời gian một cách khoa học. Bởi công việc của họ luôn là việc thường xuyên và thời hạn nhất định. Vì thế, để đảm bảo tiến độ, thời gian theo thỏa thuận với khách hàng thì luật sư cần phải quản lý thời gian một cách hợp lý.

Kỹ năng định hướng

Một trong những kỹ năng không thể thiếu để trở thành một sư giỏi là cần phải có kỹ năng định hướng và nghiên cứu thị trường. Từ kết quả tìm hiểu họ sẽ tiến hành phân tích các chi tiết của vụ việc hay vụ án. Từ đó, đưa ra hướng giải quyết một cách tốt nhất cho từng vấn đề.

Kỹ năng phán đoán

Kỹ năng cuối cùng một luật sư cần phải có là phán đoán. Đây là kỹ năng đặc biệt vô cùng quan trọng của một người làm luật sư khi tìm hiểu vấn đề để đưa ra phán đoán phản biện lại đối thủ. 

Khả năng phán đoán và phản biện tốt giúp luật sư có thể nhận đính chính xác các vấn đề cần phải phản biện trước tòa án. Ngoài ra, với khả năng phán đoán tốt giúp đưa ra những hạn chế, sai sót của đối phương khi tham gia tranh luận.

5. Điều kiện và quy trình để trở thành luật sư

Nếu bạn đang thắc mắc không biết tiêu chuẩn và quy trình để trở thành luật sư bao gồm những công đoạn nào, Dưới đây là quy trình và điều kiện trở thành luật sư theo quy định của pháp luật phải đầy đủ các điều kiện sau đây.

Công dân Việt Nam

Điều kiện đầu tiên là bạn phải là công dân Việt Nam tuyệt đối trung thành với Tổ quốc. Ngoài ra, còn phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật và phải có sức khỏe tốt.

Có bằng cử nhân luật

Nếu bạn có bằng tốt nghiệp đại học luật hay bằng tốt nghiệp chuyên ngành luật do cơ sở giáo dục Việt Nam hay nước ngoài cấp. Tuy nhiên, nếu bằng nước ngoài thì phải được công nhận tại Việt Nam.

Giấy chứng nhận đào tạo nghề luật sư

Ngoài bằng tốt nghiệp ngành luật bạn cần phải có thêm giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư. Thời gian đào tạo của khóa học này là mười hai tháng.

Tập sự hành nghề luật sư

Sau khi, đã có đầy đủ bằng cấp và giấy chứng nhận bạn cần đăng ký vào một tổ chức hành nghề luật sư để thực tập. Thời gian thực tập là 12 tháng tại tổ chức hành nghề luật sư. 

Bổ nhiệm luật sư

Kết thúc quá trình tập sự nếu bạn đạt yêu cầu của kỳ kiểm tra hết thời gian thực tập nghề luật sư thì sẽ được cấp giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự. Cuối cùng bạn làm hồ sơ theo quy định để được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư hay còn gọi là bổ nhiệm luật sư. Giờ đây, bạn đã có thể tham gia bất kỳ văn phòng hay đoàn luật sư nào.